<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0" xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/" xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">
	<channel>
		<title><![CDATA[Phát triển bền vững vật liệu Việt Nam - All Forums]]></title>
		<link>http://forum.vatlieu.us/</link>
		<description><![CDATA[Phát triển bền vững vật liệu Việt Nam - http://forum.vatlieu.us]]></description>
		<pubDate>Thu, 11 Mar 2010 00:28:00 +0000</pubDate>
		<generator>MyBB</generator>
		<item>
			<title><![CDATA[The top 100 sites in Vietnam]]></title>
			<link>http://forum.vatlieu.us/showthread.php?tid=1489</link>
			<pubDate>Wed, 10 Mar 2010 12:27:09 -0500</pubDate>
			<guid isPermaLink="false">http://forum.vatlieu.us/showthread.php?tid=1489</guid>
			<description><![CDATA[<span style="font-weight: bold;">Just follow the collection you'll find intersting information</span> <img src="http://forum.vatlieu.us/images/smilies/cool.gif" style="vertical-align: middle;" border="0" alt="Cool" title="Cool" /> <br />
<br />
Page 01 (01-20): <a href="http://www.alexa.com/topsites/countries;0/VN" target="_blank">http://www.alexa.com/topsites/countries;0/VN</a><br />
Page 02 (21-40): <a href="http://www.alexa.com/topsites/countries;1/VN" target="_blank">http://www.alexa.com/topsites/countries;1/VN</a><br />
Page 02 (41-60): <a href="http://www.alexa.com/topsites/countries;2/VN" target="_blank">http://www.alexa.com/topsites/countries;2/VN</a><br />
Page 02 (61-80): <a href="http://www.alexa.com/topsites/countries;3/VN" target="_blank">http://www.alexa.com/topsites/countries;3/VN</a><br />
Page 02 (81-99): <a href="http://www.alexa.com/topsites/countries;4/VN" target="_blank">http://www.alexa.com/topsites/countries;4/VN</a>]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<span style="font-weight: bold;">Just follow the collection you'll find intersting information</span> <img src="http://forum.vatlieu.us/images/smilies/cool.gif" style="vertical-align: middle;" border="0" alt="Cool" title="Cool" /> <br />
<br />
Page 01 (01-20): <a href="http://www.alexa.com/topsites/countries;0/VN" target="_blank">http://www.alexa.com/topsites/countries;0/VN</a><br />
Page 02 (21-40): <a href="http://www.alexa.com/topsites/countries;1/VN" target="_blank">http://www.alexa.com/topsites/countries;1/VN</a><br />
Page 02 (41-60): <a href="http://www.alexa.com/topsites/countries;2/VN" target="_blank">http://www.alexa.com/topsites/countries;2/VN</a><br />
Page 02 (61-80): <a href="http://www.alexa.com/topsites/countries;3/VN" target="_blank">http://www.alexa.com/topsites/countries;3/VN</a><br />
Page 02 (81-99): <a href="http://www.alexa.com/topsites/countries;4/VN" target="_blank">http://www.alexa.com/topsites/countries;4/VN</a>]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Lectures on Manuscript (Peer) Review]]></title>
			<link>http://forum.vatlieu.us/showthread.php?tid=1488</link>
			<pubDate>Wed, 10 Mar 2010 12:07:41 -0500</pubDate>
			<guid isPermaLink="false">http://forum.vatlieu.us/showthread.php?tid=1488</guid>
			<description><![CDATA[Provenzale, J. M. and R. J. Stanley (2006). "A Systematic Guide to Reviewing a Manuscript." J Nucl Med Technol 34(2): 92-99.<br />
<a href="http://tech.snmjournals.org/cgi/reprint/34/2/92" target="_blank">http://tech.snmjournals.org/cgi/reprint/34/2/92</a><br />
<br />
Roberts, L., J. Coverdale, et al. (2004). "How to review a manuscript: a" down-to-earth" approach." Academic Psychiatry 28(2): 81-87.<br />
<a href="http://ap.psychiatryonline.org/cgi/reprint/28/2/81.pdf" target="_blank">http://ap.psychiatryonline.org/cgi/reprint/28/2/81.pdf</a><br />
<br />
Best regards!]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[Provenzale, J. M. and R. J. Stanley (2006). "A Systematic Guide to Reviewing a Manuscript." J Nucl Med Technol 34(2): 92-99.<br />
<a href="http://tech.snmjournals.org/cgi/reprint/34/2/92" target="_blank">http://tech.snmjournals.org/cgi/reprint/34/2/92</a><br />
<br />
Roberts, L., J. Coverdale, et al. (2004). "How to review a manuscript: a" down-to-earth" approach." Academic Psychiatry 28(2): 81-87.<br />
<a href="http://ap.psychiatryonline.org/cgi/reprint/28/2/81.pdf" target="_blank">http://ap.psychiatryonline.org/cgi/reprint/28/2/81.pdf</a><br />
<br />
Best regards!]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Yến Năng gallery - dieukhac.com.vn - a joomla based website]]></title>
			<link>http://forum.vatlieu.us/showthread.php?tid=1487</link>
			<pubDate>Wed, 10 Mar 2010 08:20:31 -0500</pubDate>
			<guid isPermaLink="false">http://forum.vatlieu.us/showthread.php?tid=1487</guid>
			<description><![CDATA[Hiện đang dev cho dieukhac.com.vn sử dụng mã nguồn VM là chính để hiển thị sản phẩm.<br />
<br />
Học cách hiển thị thumb image theo website _http://www.sugarclothing.co.uk/<br />
<br />
Các ext hỗ trợ VN tại <a href="http://extensions.joomla.org/extensions/extension-specific/virtuemart-extensions" target="_blank">http://extensions.joomla.org/extensions/...extensions</a><br />
<br />
Mẫu gợi ý:<br />
_http://www.lpdesign.com/<br />
_http://www.sculpturegallery.com/]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[Hiện đang dev cho dieukhac.com.vn sử dụng mã nguồn VM là chính để hiển thị sản phẩm.<br />
<br />
Học cách hiển thị thumb image theo website _http://www.sugarclothing.co.uk/<br />
<br />
Các ext hỗ trợ VN tại <a href="http://extensions.joomla.org/extensions/extension-specific/virtuemart-extensions" target="_blank">http://extensions.joomla.org/extensions/...extensions</a><br />
<br />
Mẫu gợi ý:<br />
_http://www.lpdesign.com/<br />
_http://www.sculpturegallery.com/]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Tại sao bài báo khoa học bị từ chối?]]></title>
			<link>http://forum.vatlieu.us/showthread.php?tid=1486</link>
			<pubDate>Wed, 10 Mar 2010 03:27:16 -0500</pubDate>
			<guid isPermaLink="false">http://forum.vatlieu.us/showthread.php?tid=1486</guid>
			<description><![CDATA[<div style="text-align: justify;">Năm 2009, các nhà khoa học VN chỉ công bố được khoảng 960 bài báo khoa học trên các tập san quốc tế. Con số này cực kì khiêm tốn khi so với các nước trong vùng. Đằng sau con số này là hàng trăm bài báo bị các tập san từ chối không công bố. Bất cứ ai làm nghiên cứu khoa học cũng có ít nhất một lần ngậm ngùi thấy bài báo hay công trình nghiên cứu của mình bị tập san khoa học từ chối không công bố. Đứng trước một quyết định như thế của tập san, phản ứng đầu tiên mà nhà khoa học có là câu hỏi “tại sao”: tại sao họ từ chối công trình tuyệt vời này của tôi? Ngạc nhiên thay, rất ít nghiên cứu về lí do từ chối bài báo khoa học! Tuy nhiên, thời gian gần đây đã có vài phân tích về vấn đề này, và bài viết này có mục tiêu cung cấp cho bạn đọc một vài nguyên nhân từ chối bài báo khoa học.<br />
<br />
Ở các nước tiên tiến và phần lớn các đang phát triển (có lẽ ngoại trừ Việt Nam), bài báo khoa học là một viên gạch lót đường cho sự thăng tiến trong nghề nghiệp của một nhà khoa học, là một đơn vị tiền tệ cực kì quan trọng cho việc xin được tài trợ cho nghiên cứu, và là một chỉ tiêu quan trọng để đo lường năng suất khoa học của một quốc gia. Do đó, có những nước, chẳng hạn như Hàn Quốc và Trung Quốc, chi ra hàng tỉ đôla để nâng cao sự có mặt của họ trên trường quốc tế qua hoạt động công bố ấn phẩm khoa học.<br />
<br />
Bài báo khoa học là “sản phẩm” của một công trình nghiên cứu khoa học. Để đánh giá sự thành bại của một công trình, người ta thường xem xét đến bài báo khoa học đã được công bố ở đâu, và trong vài trường hợp cần thiết, bằng sáng chế được đăng kí ở đâu. Xin nói thêm rằng ở nước ngoài, người ta không có kiểu “nghiệm thu” như ở Việt Nam để đánh giá sự thành bại của một công trình nghiên cứu khoa học.<br />
<br />
<span style="font-weight: bold;">Qui trình xuất bản</span><br />
<br />
Qui trình để xuất bản một bài báo khoa học cũng khá đơn giản. Đầu tiên là tác giả (hay thường là nhóm tác giả) soạn bài báo khoa học, sau đó họ chọn một tập san để gửi gấm “đứa con tinh thần” của mình. Ban biên tập tập san khi nhận được sẽ xem qua một cách nhanh chóng, và nếu thấy chưa đạt yêu cầu sẽ gửi trả lại cho tác giả trong vòng 1 tuần; nếu thấy đạt yêu cầu và có tiềm năng, họ sẽ gửi cho 2 hoặc 3 chuyên gia bình duyệt (reviewers hay referees). Các chuyên gia bình duyệt sẽ đọc và đánh giá bài báo, viết báo cáo gửi cho tổng biên tập của tập san, với những đề nghị như (a) cho công bố không cần sửa; (b) cho công bố những cần sửa chút ít; &copy; cho công bố nhưng sửa nhiều hay viết lại; (d) từ chối. Chỉ một trong 3 chuyên gia bình duyệt đề nghị từ chối thì bài báo sẽ bị từ chối. Nếu 2 chuyên gia đề nghị chấp nhận cho công bố và 1 người không chấp nhận, thì ban biên tập sẽ gửi cho một chuyên gia khác bình duyệt tiếp. Điều cần nói là các chuyên gia này biết tác giả là ai (qua bản thảo bài báo), nhưng tác giả không biết 3 chuyên gia này là ai. Thời gian bình duyệt của các chuyên gia có thể kéo dài từ 2 tuần đến 6 tháng, hoặc có thể lâu hơn (tùy theo bộ môn khoa học).<br />
<br />
Nếu các chuyên gia đề nghị phải sửa lại thì tổng biên tập gửi lại cho tác giả với toàn bộ báo cáo của các chuyên gia. Tác giả có trách nhiệm phải sửa từng điểm một trong bài báo, hay làm thêm thí nghiệm, thêm phân tích, v.v… để đáp ứng yêu cầu của các chuyên gia bình duyệt. Bản thảo thứ hai lại được gửi cho ban biên tập, và qui trình bình duyệt lần thứ 2 lại được khởi động. Nếu các chuyên gia thấy tác giả chưa đáp ứng yêu cầu, bài báo có thể bị từ chối. Nếu các chuyên gia thấy tác giả đã đáp ứng tất cả những đề nghị thì họ có thể sẽ đồng ý cho công bố bài báo. Nếu được chấp nhận, bài báo sẽ được gửi cho biên tập viên của nhà xuất bản, và họ sẽ có người chuyên lo phần ngôn ngữ để biên tập bài báo. Thật ra, phần lớn bài báo chẳng có gì phải sửa về tiếng Anh, nhưng vì các nhà xuất bản muốn tiết kiệm giấy, nên nhiệm vụ của biên tập viên là tìm mọi cách, mọi nơi để giảm số chữ. Chẳng hạn như những danh xưng, bằng cấp, chức danh, v.v… của tác giả có tập san có chính sách cắt bỏ hết vì họ cho rằng tốn giấy. Họ sẽ xem xét đến biểu đồ và bảng số liệu xem có gì trùng hợp không để cắt bỏ khỏi bài báo. Những biên tập viên này cực kì giỏi về viết lách và rất kinh nghiệm trong việc trình bày một bài báo khoa học sao cho gọn nhẹ mà nội dung vẫn đầy đủ.<br />
<br />
Như là một qui luật, phần lớn các bài những khoa học nộp cho tập san khoa học bị từ chối không cho công bố ngay từ giai đoạn bình duyệt, thậm chí ngay từ giai đoạn trước khi gửi bài báo ra ngoài bình duyệt. Tỉ lệ từ chối dao động lớn giữa các tập san. Tập san càng uy tín chừng nào, tỉ lệ từ chối càng cao chừng ấy. Uy tín ở đây được đo lường bằng hệ số impact factor (IF). Tập san có ảnh hưởng lớn thường có hệ số cao. Những tập san lâu đời và có ảnh hưởng lớn trong khoa học như Science (IF 30), Nature (IF 31), Cell (31.3), hay trong y khoa như New England Journal of Medicine (52.6), Lancet (28.6), JAMA (25.6), mỗi năm nhận được khoảng 6000 đến 8000 bài báo khoa học, nhưng tỉ lệ từ chối lên đến 90% hoặc 95%. Ngược lại, những tập san nhỏ và chuyên ngành thường có hệ số impact factor thấp, và tỉ lệ từ chối chỉ khoảng 50% đến 60%. Những tập san địa phương có vẻ dễ dải hơn, với tỉ lệ từ chối chỉ 20 hay 30%.<br />
<br />
<span style="font-weight: bold;">Lí do từ chối ? </span><br />
<br />
Nhưng tại sao các tập san có “thói quen” từ chối công bố các công trình nghiên cứu của đồng nghiệp? Đây là một câu hỏi chính đáng, nhưng rất khó có câu trả lời, vì trong quá khứ rất ít nghiên cứu tìm hiểu những nguyên nhân dẫn đến từ chối một bài báo khoa học. Tuy nhiên, một cuộc điều tra gần đây cung cấp cho chúng ta một vài dữ liệu thú vị và quan trọng. Trong cuộc điều tra này, tác giả gửi 83 câu hỏi đến đến 25 nhà khoa học từng chiếm giải Nobel y sinh học, 67 tổng biên tập và 50 chuyên gia bình duyệt của các tập san y sinh học. Nhưng chỉ có khoảng 25% trong số này trả lời tất cả những câu hỏi, và kết quả phân tích cho thấy như sau.<br />
<br />
Khi được hỏi khuyết điểm nào phổ biến nhất để từ chối ngay một bài báo khoa học, thì có 3 lí do chính sau đây: 71% là do thiết kế nghiên cứu có vấn đề, 14% do diễn giải kết quả nghiên cứu sai, và 14% là do đề tài nghiên cứu không quan trọng.<br />
<br />
Một bài báo thường được viết theo cấu trúc IMRAD (tức là có phần dẫn nhập, phương pháp, kết quả, và bàn luận). Khi được hỏi phần nào thường phạm phải sai lầm nhiều nhất thì câu trả lời là 55% ở phần phương pháp, 24% phần bàn luận, và 21% phần kết quả. Trong 4 phần của một bài báo, phần nào là nguyên nhân dẫn đến từ chối bài báo? Phân tích kết quả cho thấy khoảng phân nủa là phần phương pháp (52%), kế đến là phần kết quả (28%), và phần bàn luận (21%).<br />
<br />
Nói tóm lại, các kết quả phân tích trên đây cho thấy khuyết điểm phổ biến nhất và cũng là nguyên nhân thông thường nhất dẫn đến quyết định từ chối một bài báo khoa học nằm ở phần phương pháp. Điều này có lẽ cũng không khó hiểu, bởi vì nếu phương pháp sai thì kết quả sẽ sai, các bàn luận và kết luận cũng có thể sai. Mà, sai sót về phương pháp thì không sửa được (vì nghiên cứu đã làm rồi). Không có tập san khoa học nào muốn công bố một bài báo khoa học với nhiều sai sót, nên quyết định từ chối những bài báo do khiếm khuyết về phương pháp là điều hoàn toàn có thể đoán được.<br />
<br />
Trong phần phân tích chi tiết về các lí do từ chối, tác giả còn cung cấp một số dữ liệu quan trọng trong phần diễn giải kết quả, tầm quan trọng của nghiên cứu, khiếm khuyết trong cách trình bày kết quả nghiên cứu, và viết văn. Về diễn giải kết quả nghiên cứu, có đến 61% các tác giả diễn giải hay kết luận không nhất quán với dữ liệu, và phần còn lại là dữ liệu không có tính thuyết phục cao (25%) hay còn quá sơ khởi (7%).<br />
<br />
Về nội dung, thiếu cái mới trong công trình nghiên cứu là lí do hàng đầu (80% bài báo bị từ chối vì lí do này). Thiếu tứng ứng dụng (13%) cũng là một lí do để từ chối, nhưng không quan trọng bằng thiếu cái mới, tuy quan trọng hơn lí do vì chủ đề nghiên cứu quá hẹp (8%). Về trình bày dữ liệu, có 3 nguyên nhân chính dẫn đến bài báo bị từ chối đăng: trình bày dữ liệu không đầy đủ (32%), có mâu thẫn giữa các dữ liệu trình bày (25%) và không cung cấp đầy đủ chi tiếtt về phương pháp nghiên cứu (25%). Về cách viết, các tổng biên tập và chuyên gia bình duyệt có vẻ không ưa cách viết lách quá nhiều chữ nhưng ít ý tưởng và đây chính là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến bài báo bị từ chối (43%). Ngoài ra, diễn đạt ý tưởng không khúc chiếc (21%) và câu văn thừa (11%) cũng là những nguyên nhân bị từ chối.<br />
<br />
<span style="font-weight: bold;">Địa phương chủ nghĩa ? </span><br />
<br />
Phần lớn các tập san khoa học -- dù là trụ sở đặt ở Mĩ hay Âu châu, hay trực thuộc các hiệp hội khoa học của Mĩ hay Âu châu -- mang tính quốc tế, hiểu theo nghĩa ban biên tập nhận bài từ tất cả các nhà khoa học trên thế giới. Câu hỏi đặt ra là có sự khác biệt nào về tỉ lệ từ chối giữa các nước hay không.<br />
<br />
Theo thống kê của các tập san y khoa lớn như New England Journal of Medicine, JAMA, không có khác biệt lớn về tỉ lệ từ chối giữa các nước Mĩ (hay nói tiếng Anh) và ngoài Mĩ. Năm 2000, 25% trong tổng số bài báo JAMA nhận được xuất phát từ các nước ngoài Mĩ, và tỉ lệ từ chối là 95%. Tỉ lệ từ chối các bài báo từ Mĩ của JAMA là 93%. Tập san New England Journal of Medicine cho biết trong tổng số bài báo tập san nhận được hàng năm, 1/2 đến từ các nước ngoài Mĩ. Trong tổng số các bài báo được chấp nhận cho đăng trên New England Journal of Medicine, 1/3 có nguồn gốc ngoài Mĩ.<br />
<br />
Tuy nhiên, đối với các tập san chuyên ngành thì có sự khác biệt lớn giữa các nước ngoài Mĩ và Mĩ. Chẳng hạn như tập san Circulation Research (chuyên về tim mạch, impact factor ~10), mỗi năm họ nhận được khoảng 2000 bài báo từ khắp các nước trên thế giới, nhưng chủ yếu từ Mĩ (44%), Âu châu (31%), Nhật (6%), và Á châu (9%, không kể Nhật). Tỉ lệ từ chối chung là 85%, không khác mấy so với tỉ lệ từ chối các bài báo từ Hàn Quốc (88%), Đài Loan (91%). Riêng Trung Quốc, có đến 99% bài báo gửi cho tập san Circulation Research bị từ chối vì chất lượng quá kém và tiếng Anh chưa đạt.<br />
<br />
Một phân tích thú vị khác của tập san American Journal of Roentgenology (IF ~4) cho thấy một “bức tranh” toàn cục thú vị (Bảng 2). Trong thời gian từ 2003 đến 2005, tập san này nhận được 5242 bài báo khoa học từ khắp nơi trên thế giới, nhưng chủ yếu từ Mĩ (43%), Nhật (11%), Hàn Quốc (9%), Đức (5%), và Canada (4%). Tuy nhiên, tỉ lệ bài báo được chấp nhận cho đăng dao động lớn giữa các nước. Trong số 2252 bài báo từ Mĩ, 72% được chấp nhận cho công bố, và trong tổng số 2990 bài báo ngoài Mĩ, tỉ lệ được chấp nhận là 60%. Nước có tỉ lệ chấp nhận thấp nhất là Ấn Độ, với chỉ 27% bài báo được công bố. Phân tích chi tiết theo ngôn ngữ mẹ đẻ, thì trong số 2684 bài báo từ các nước nói tiếng Anh (Mĩ, Canada, Anh, Úc) tỉ lệ chấp nhận cho công bố là ~71%. Trong số 2558 bài báo xuất phát từ những nước không nói tiếng Anh, tỉ lệ chấp nhận chỉ 60%.<br />
<br />
Các nhà nghiên cứu phân chia các nguyên nhân từ chối thành 6 nhóm: nhóm: I liên quan đến thiếu cái mới hay dữ liệu không có ích; nhóm II liên quan đến những khuyết điểm về phương pháp và logic; nhóm III, khuyết điểm về phân tích dữ liệu; nhóm IV, vấn đề ngôn ngữ; nhóm V, chuyên gia bình duyệt không thích; và nhóm VI, không thích hợp cho tập san. <br />
<br />
Khi phân tích lí do từ chối theo từng nhóm và nước (Bảng 3) chúng ta thấy phần lớn (60%) bài báo bị từ chối là thuộc vào nhóm I, tiếp đến là nhóm II (17%), nhóm III (7%), nhóm IV (3.5%), nhóm V (8%), và nhóm VI (4.4%).<br />
<br />
Phân tích lí do từ chối, chúng ta thấy rõ ràng có sự khác biệt giữa các nước. Đối với những nước như Hàn Quốc, Thổ Nhĩ Kì, Thụy Sĩ, Đài Loan, Ý, Ấn Độ, và Do Thái, lí do từ chối lớn nhất ở các nước là nhóm I, tức thiếu cái mới trong nghiên cứu. Nói cách khác, các nước này có xu hướng làm những công trình nghiên cứu –nói theo tiếng Anh là – “me too” (tức chỉ lặp lại những gì các nước khác đã làm mà phương pháp, kết quả và cách diễn giải hoàn toàn không có gì mới.<br />
<br />
Điều đáng ngạc nhiên là trong số những bài báo từ Đức và Áo bị từ chối, có đến 33-40% là do những sai sót về phương pháp và lí luận! Riêng những nghiên cứu từ Trung Quốc thì trong số bài báo bị từ chối, 52% là do thiếu cái mới, 17% do vấn đề tiếng Anh, 14% là do khuyết điểm trong phương pháp nghiên cứu là logic, và 6% do phân tích dữ liệu sai.<br />
<br />
<span style="font-weight: bold;">Vài nhận xét </span><br />
<br />
Những dữ liệu trên đây cung cấp cho chúng ta một bức tranh tương đối toàn diện về tình hình công bố quốc tế đối với các nhà khoa học trong ngành y sinh học. Có thể tóm tắt các dữ liệu trên đây qua 3 điểm chính như sau:<ul>
<li>trong tất cả các nguyên nhân từ chối công bố quốc tế, gần 2/3 là do khuyết điểm trong khâu thiết kế nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu;</li>
<li>những khuyết điểm này thường tập trung vào 2 khía cạnh chính: thiếu cái mới và lí luận logic;</li>
<li>bài bào từ Mĩ và các nước nói tiếng Anh có tỉ lệ từ chối thấp hơn bài báo từ các nước không nói tiếng Anh;<br />
</li></ul>
<br />
Tuy nhiên, những phân tích trên đây cũng có vài hạn chế. Thứ nhất là các dữ liệu được thu thập từ các tổng biên tập, nhà khoa học và tập san trong lĩnh vực y sinh học; do đó có thể chưa phản ảnh đúng tình trạng thực tế trong các lĩnh vực khoa học khác như kĩ thuật, khoa học tự nhiên, khoa học xã hội. Thứ hai là dữ liệu từ một tập san nhỏ (hay chỉ có 25% nhà nghiên cứu trả lời) nên chắc chắn ngay cả trong lĩnh vực y sinh học cũng chưa phản ảnh đúng thực trạng, dù bức tranh chung thì chắc cũng khá đầy đủ.<br />
<br />
Nếu những dữ liệu và phân tích trên đây cung cấp cho giới khoa học, nhất là trong lĩnh vực y sinh học, vài kinh nghiệm, tôi nghĩ đến những khía cạnh sau đây. Thứ nhất là khi có ý tưởng làm nghiên cứu, cần phải chú trọng đến cái mới. Cái mới ở đây không chỉ về ý tưởng, mà có thể là cái mới về phương pháp nghiên cứu (dù ý tưởng không mới), cái mới về kết quả và cách trình bày, và cái mới trong cách lí giải kết quả nghiên cứu. Thiếu những cái mới này thì nghiên cứu chỉ là một dạng “me too”, tức chỉ hoàn toàn bắt chước người khác từ A đến Z. Nếu là nghiên cứu “me too” thì rất khó được chấp nhận cho công bố trên các tập san có uy tín cao, hay dù có cơ hội được công bố thì tập san cũng thuộc vào loại làng nhàng, dưới trung bình.<br />
<br />
Thứ hai là cần chú trọng đến khâu thiết kế nghiên cứu và phương pháp phân tích. Trong nghiên cứu thực nghiệm, thiết kế và phương pháp đóng vai trò cực kì quan trọng. Thiết kế nghiên cứu không thích hợp, thì dữ liệu có thể không có giá trị khoa học cao, và không có cơ may công bố trên các tập san có uy tín cao. Chẳng hạn như một công trình nghiên cứu y khoa thiết kế theo mô hình có yếu tố thời gian và có nhóm chứng lúc nào cũng có giá trị khoa học hơn là một công trình “nghiên cứu cắt ngang” (cross-sectional study). Trong nghiên cứu y học, phương pháp sai thì kết quả cũng sai hay không có giá trị cao. Chẳng hạn như nếu nghiên cứu về bệnh tiểu đường hay dinh dưỡng mà không có các đo lường về lượng mỡ bằng phương pháp DXA thì dữ liệu khó mà xem là có giá trị khoa học cao. Một nghiên cứu với thiết kế và phương pháp chưa đạt thì xác suất bị từ chối rất cao.<br />
<br />
Thứ ba là cần thạo tiếng Anh. Phần lớn các tập san quốc tế, dù là tập san ở các nước Bắc Âu hay châu Á Thái Bình Dương đều sử dụng tiếng Anh. Có thể nói không ngoa rằng tiếng Anh đã trở thành một ngôn ngữ của cộng đồng khoa học. Đối với các nhà khoa học Việt Nam, tiếng Anh là một vấn đề lớn, vì phần lớn các nhà khoa học không thạo tiếng Anh. Ngay cả những người có khả năng giao tiếp bằng tiếng Anh, họ cũng rất khó viết nổi một bài báo khoa học. Ngay cả những người viết được thì xác suất sai sót về cú pháp, cách diễn đạt rất cao. Có thể nói không ngoa rằng không một bài báo y khoa nào được công bố trên các tập san ở trong nước viết đúng tiếng Anh! Nhưng như chúng ta thấy qua các dữ liệu trên, tiếng Anh là một rào cản đáng kể (nhưng không phải là rào cản duy nhất hay lớn nhất) đối với các nhà khoa học ngoài các nước nói tiếng Anh. Do đó, chúng ta cần phải đẩy mạnh việc trao dồi tiếng Anh trong giới khoa học, và tổ chức nhiều khóa học về cách viết bài báo khoa học bằng tiếng Anh. Tuy nhiên, tiếng Anh không phải là nguyên nhân chính để từ chối một công trình nghiên cứu có chất lượng cao. Ngược lại, tiếng Anh “văn hay chữ tốt” cũng không thể bù đấp được những khiếm khuyết về cái mới và phần thiết kế cũng như phương pháp nghiên cứu.<br />
<br />
Đối với giới làm nghiên cứu khoa học, chuyện vui buồn trong công bố công trình nghiên cứu xảy ra thường xuyên. Có nhiều khi bài báo sau khi qua nhiều sửa đổi được chấp nhận cho công bố, và dĩ nhiên đó là một tin mừng. Nếu tập san có hệ số impact factor cao thì tác giả có khi tổ chức tiệc ăn mừng. Mừng vì công trình của mình được công bố trên một tập san lớn, và có cơ hội chia sẻ kinh nghiệm với đồng nghiệp quốc tế. Nhưng hầu như bất cứ ai làm việc trong nghiên cứu khoa học đều phải trải qua nhiều lần khi mà bài báo nghiên cứu của mình bị tập san khoa học từ chối không công bố. Đối với những nghiên cứu sinh lần đầu nhận được lá thư của tổng biên tập thông báo cho biết bài báo không được chấp nhận cho công bố là một bản tin sốc. Có khi sốc đến cao độ. Có khi buồn chán. Trong bối cảnh buồn chán đó, nhà khoa học có kinh nghiệm thường phải tỏ ra bình tĩnh để xem xét lại nguyên nhân bài báo bị từ chối. Cần phải biến sự việc tiêu cực (bị từ chối) thành một cơ hội lí tưởng để tự vấn. Trong quá trình tự vấn này, một số câu hỏi thông thường cần đặt ra:<br />
<br />
<span style="color: #000080;"><ul>
<li>Tựa đề bài báo có phù hợp với dữ liệu nghiên cứu?</li>
<li>Kết quả nghiên cứu có nhất quán với những lí giải trong phần bàn luận?</li>
<li>Có phải lí giải trong bài báo là lí giải duy nhất, hay còn một lí giải, một cách diễn giải nào khác?</li>
<li>Có cần thu thập thêm dữ liệu?</li>
<li>Có cần một phương pháp phân tích khác tốt hơn?</li>
<li>Kết quả có ý nghĩa thống kê và ý nghĩa thực tiễn?</li>
<li>Kết quả nghiên cứu đã được trình bày một cách logic, mạch lạc, và rõ ràng?</li>
<li>Tiếng Anh đã trao chuốt chưa?<br />
</li></ul>
</span><br />
<br />
Trả lời được những câu hỏi tự vấn trên chắc chắn sẽ có hiệu quả cải tiến bài báo một cách đáng kể. Cố nhiên, khi bài báo bị từ chối thì điều đó không có nghĩa là công trình chấm dứt ở đó, mà chúng ta vẫn có quyền khiếu nại, hay trong nhiều trường hợp, chúng ta có thể chỉnh sửa và nộp cho một tập san khác. Tuy nhiên, “biết người biết ta, trăm trận trăm thắng”, những lí do từ chối được mô tả trong bài viết này là những kinh nghiệm quí báu để chúng ta tự đánh giá và chuẩn bị cho nhiều nghiên cứu sau tốt hơn.<br />
<br />
[align=right&#93;<span style="font-weight: bold;">NVT</span></div>[/align&#93;]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<div style="text-align: justify;">Năm 2009, các nhà khoa học VN chỉ công bố được khoảng 960 bài báo khoa học trên các tập san quốc tế. Con số này cực kì khiêm tốn khi so với các nước trong vùng. Đằng sau con số này là hàng trăm bài báo bị các tập san từ chối không công bố. Bất cứ ai làm nghiên cứu khoa học cũng có ít nhất một lần ngậm ngùi thấy bài báo hay công trình nghiên cứu của mình bị tập san khoa học từ chối không công bố. Đứng trước một quyết định như thế của tập san, phản ứng đầu tiên mà nhà khoa học có là câu hỏi “tại sao”: tại sao họ từ chối công trình tuyệt vời này của tôi? Ngạc nhiên thay, rất ít nghiên cứu về lí do từ chối bài báo khoa học! Tuy nhiên, thời gian gần đây đã có vài phân tích về vấn đề này, và bài viết này có mục tiêu cung cấp cho bạn đọc một vài nguyên nhân từ chối bài báo khoa học.<br />
<br />
Ở các nước tiên tiến và phần lớn các đang phát triển (có lẽ ngoại trừ Việt Nam), bài báo khoa học là một viên gạch lót đường cho sự thăng tiến trong nghề nghiệp của một nhà khoa học, là một đơn vị tiền tệ cực kì quan trọng cho việc xin được tài trợ cho nghiên cứu, và là một chỉ tiêu quan trọng để đo lường năng suất khoa học của một quốc gia. Do đó, có những nước, chẳng hạn như Hàn Quốc và Trung Quốc, chi ra hàng tỉ đôla để nâng cao sự có mặt của họ trên trường quốc tế qua hoạt động công bố ấn phẩm khoa học.<br />
<br />
Bài báo khoa học là “sản phẩm” của một công trình nghiên cứu khoa học. Để đánh giá sự thành bại của một công trình, người ta thường xem xét đến bài báo khoa học đã được công bố ở đâu, và trong vài trường hợp cần thiết, bằng sáng chế được đăng kí ở đâu. Xin nói thêm rằng ở nước ngoài, người ta không có kiểu “nghiệm thu” như ở Việt Nam để đánh giá sự thành bại của một công trình nghiên cứu khoa học.<br />
<br />
<span style="font-weight: bold;">Qui trình xuất bản</span><br />
<br />
Qui trình để xuất bản một bài báo khoa học cũng khá đơn giản. Đầu tiên là tác giả (hay thường là nhóm tác giả) soạn bài báo khoa học, sau đó họ chọn một tập san để gửi gấm “đứa con tinh thần” của mình. Ban biên tập tập san khi nhận được sẽ xem qua một cách nhanh chóng, và nếu thấy chưa đạt yêu cầu sẽ gửi trả lại cho tác giả trong vòng 1 tuần; nếu thấy đạt yêu cầu và có tiềm năng, họ sẽ gửi cho 2 hoặc 3 chuyên gia bình duyệt (reviewers hay referees). Các chuyên gia bình duyệt sẽ đọc và đánh giá bài báo, viết báo cáo gửi cho tổng biên tập của tập san, với những đề nghị như (a) cho công bố không cần sửa; (b) cho công bố những cần sửa chút ít; &copy; cho công bố nhưng sửa nhiều hay viết lại; (d) từ chối. Chỉ một trong 3 chuyên gia bình duyệt đề nghị từ chối thì bài báo sẽ bị từ chối. Nếu 2 chuyên gia đề nghị chấp nhận cho công bố và 1 người không chấp nhận, thì ban biên tập sẽ gửi cho một chuyên gia khác bình duyệt tiếp. Điều cần nói là các chuyên gia này biết tác giả là ai (qua bản thảo bài báo), nhưng tác giả không biết 3 chuyên gia này là ai. Thời gian bình duyệt của các chuyên gia có thể kéo dài từ 2 tuần đến 6 tháng, hoặc có thể lâu hơn (tùy theo bộ môn khoa học).<br />
<br />
Nếu các chuyên gia đề nghị phải sửa lại thì tổng biên tập gửi lại cho tác giả với toàn bộ báo cáo của các chuyên gia. Tác giả có trách nhiệm phải sửa từng điểm một trong bài báo, hay làm thêm thí nghiệm, thêm phân tích, v.v… để đáp ứng yêu cầu của các chuyên gia bình duyệt. Bản thảo thứ hai lại được gửi cho ban biên tập, và qui trình bình duyệt lần thứ 2 lại được khởi động. Nếu các chuyên gia thấy tác giả chưa đáp ứng yêu cầu, bài báo có thể bị từ chối. Nếu các chuyên gia thấy tác giả đã đáp ứng tất cả những đề nghị thì họ có thể sẽ đồng ý cho công bố bài báo. Nếu được chấp nhận, bài báo sẽ được gửi cho biên tập viên của nhà xuất bản, và họ sẽ có người chuyên lo phần ngôn ngữ để biên tập bài báo. Thật ra, phần lớn bài báo chẳng có gì phải sửa về tiếng Anh, nhưng vì các nhà xuất bản muốn tiết kiệm giấy, nên nhiệm vụ của biên tập viên là tìm mọi cách, mọi nơi để giảm số chữ. Chẳng hạn như những danh xưng, bằng cấp, chức danh, v.v… của tác giả có tập san có chính sách cắt bỏ hết vì họ cho rằng tốn giấy. Họ sẽ xem xét đến biểu đồ và bảng số liệu xem có gì trùng hợp không để cắt bỏ khỏi bài báo. Những biên tập viên này cực kì giỏi về viết lách và rất kinh nghiệm trong việc trình bày một bài báo khoa học sao cho gọn nhẹ mà nội dung vẫn đầy đủ.<br />
<br />
Như là một qui luật, phần lớn các bài những khoa học nộp cho tập san khoa học bị từ chối không cho công bố ngay từ giai đoạn bình duyệt, thậm chí ngay từ giai đoạn trước khi gửi bài báo ra ngoài bình duyệt. Tỉ lệ từ chối dao động lớn giữa các tập san. Tập san càng uy tín chừng nào, tỉ lệ từ chối càng cao chừng ấy. Uy tín ở đây được đo lường bằng hệ số impact factor (IF). Tập san có ảnh hưởng lớn thường có hệ số cao. Những tập san lâu đời và có ảnh hưởng lớn trong khoa học như Science (IF 30), Nature (IF 31), Cell (31.3), hay trong y khoa như New England Journal of Medicine (52.6), Lancet (28.6), JAMA (25.6), mỗi năm nhận được khoảng 6000 đến 8000 bài báo khoa học, nhưng tỉ lệ từ chối lên đến 90% hoặc 95%. Ngược lại, những tập san nhỏ và chuyên ngành thường có hệ số impact factor thấp, và tỉ lệ từ chối chỉ khoảng 50% đến 60%. Những tập san địa phương có vẻ dễ dải hơn, với tỉ lệ từ chối chỉ 20 hay 30%.<br />
<br />
<span style="font-weight: bold;">Lí do từ chối ? </span><br />
<br />
Nhưng tại sao các tập san có “thói quen” từ chối công bố các công trình nghiên cứu của đồng nghiệp? Đây là một câu hỏi chính đáng, nhưng rất khó có câu trả lời, vì trong quá khứ rất ít nghiên cứu tìm hiểu những nguyên nhân dẫn đến từ chối một bài báo khoa học. Tuy nhiên, một cuộc điều tra gần đây cung cấp cho chúng ta một vài dữ liệu thú vị và quan trọng. Trong cuộc điều tra này, tác giả gửi 83 câu hỏi đến đến 25 nhà khoa học từng chiếm giải Nobel y sinh học, 67 tổng biên tập và 50 chuyên gia bình duyệt của các tập san y sinh học. Nhưng chỉ có khoảng 25% trong số này trả lời tất cả những câu hỏi, và kết quả phân tích cho thấy như sau.<br />
<br />
Khi được hỏi khuyết điểm nào phổ biến nhất để từ chối ngay một bài báo khoa học, thì có 3 lí do chính sau đây: 71% là do thiết kế nghiên cứu có vấn đề, 14% do diễn giải kết quả nghiên cứu sai, và 14% là do đề tài nghiên cứu không quan trọng.<br />
<br />
Một bài báo thường được viết theo cấu trúc IMRAD (tức là có phần dẫn nhập, phương pháp, kết quả, và bàn luận). Khi được hỏi phần nào thường phạm phải sai lầm nhiều nhất thì câu trả lời là 55% ở phần phương pháp, 24% phần bàn luận, và 21% phần kết quả. Trong 4 phần của một bài báo, phần nào là nguyên nhân dẫn đến từ chối bài báo? Phân tích kết quả cho thấy khoảng phân nủa là phần phương pháp (52%), kế đến là phần kết quả (28%), và phần bàn luận (21%).<br />
<br />
Nói tóm lại, các kết quả phân tích trên đây cho thấy khuyết điểm phổ biến nhất và cũng là nguyên nhân thông thường nhất dẫn đến quyết định từ chối một bài báo khoa học nằm ở phần phương pháp. Điều này có lẽ cũng không khó hiểu, bởi vì nếu phương pháp sai thì kết quả sẽ sai, các bàn luận và kết luận cũng có thể sai. Mà, sai sót về phương pháp thì không sửa được (vì nghiên cứu đã làm rồi). Không có tập san khoa học nào muốn công bố một bài báo khoa học với nhiều sai sót, nên quyết định từ chối những bài báo do khiếm khuyết về phương pháp là điều hoàn toàn có thể đoán được.<br />
<br />
Trong phần phân tích chi tiết về các lí do từ chối, tác giả còn cung cấp một số dữ liệu quan trọng trong phần diễn giải kết quả, tầm quan trọng của nghiên cứu, khiếm khuyết trong cách trình bày kết quả nghiên cứu, và viết văn. Về diễn giải kết quả nghiên cứu, có đến 61% các tác giả diễn giải hay kết luận không nhất quán với dữ liệu, và phần còn lại là dữ liệu không có tính thuyết phục cao (25%) hay còn quá sơ khởi (7%).<br />
<br />
Về nội dung, thiếu cái mới trong công trình nghiên cứu là lí do hàng đầu (80% bài báo bị từ chối vì lí do này). Thiếu tứng ứng dụng (13%) cũng là một lí do để từ chối, nhưng không quan trọng bằng thiếu cái mới, tuy quan trọng hơn lí do vì chủ đề nghiên cứu quá hẹp (8%). Về trình bày dữ liệu, có 3 nguyên nhân chính dẫn đến bài báo bị từ chối đăng: trình bày dữ liệu không đầy đủ (32%), có mâu thẫn giữa các dữ liệu trình bày (25%) và không cung cấp đầy đủ chi tiếtt về phương pháp nghiên cứu (25%). Về cách viết, các tổng biên tập và chuyên gia bình duyệt có vẻ không ưa cách viết lách quá nhiều chữ nhưng ít ý tưởng và đây chính là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến bài báo bị từ chối (43%). Ngoài ra, diễn đạt ý tưởng không khúc chiếc (21%) và câu văn thừa (11%) cũng là những nguyên nhân bị từ chối.<br />
<br />
<span style="font-weight: bold;">Địa phương chủ nghĩa ? </span><br />
<br />
Phần lớn các tập san khoa học -- dù là trụ sở đặt ở Mĩ hay Âu châu, hay trực thuộc các hiệp hội khoa học của Mĩ hay Âu châu -- mang tính quốc tế, hiểu theo nghĩa ban biên tập nhận bài từ tất cả các nhà khoa học trên thế giới. Câu hỏi đặt ra là có sự khác biệt nào về tỉ lệ từ chối giữa các nước hay không.<br />
<br />
Theo thống kê của các tập san y khoa lớn như New England Journal of Medicine, JAMA, không có khác biệt lớn về tỉ lệ từ chối giữa các nước Mĩ (hay nói tiếng Anh) và ngoài Mĩ. Năm 2000, 25% trong tổng số bài báo JAMA nhận được xuất phát từ các nước ngoài Mĩ, và tỉ lệ từ chối là 95%. Tỉ lệ từ chối các bài báo từ Mĩ của JAMA là 93%. Tập san New England Journal of Medicine cho biết trong tổng số bài báo tập san nhận được hàng năm, 1/2 đến từ các nước ngoài Mĩ. Trong tổng số các bài báo được chấp nhận cho đăng trên New England Journal of Medicine, 1/3 có nguồn gốc ngoài Mĩ.<br />
<br />
Tuy nhiên, đối với các tập san chuyên ngành thì có sự khác biệt lớn giữa các nước ngoài Mĩ và Mĩ. Chẳng hạn như tập san Circulation Research (chuyên về tim mạch, impact factor ~10), mỗi năm họ nhận được khoảng 2000 bài báo từ khắp các nước trên thế giới, nhưng chủ yếu từ Mĩ (44%), Âu châu (31%), Nhật (6%), và Á châu (9%, không kể Nhật). Tỉ lệ từ chối chung là 85%, không khác mấy so với tỉ lệ từ chối các bài báo từ Hàn Quốc (88%), Đài Loan (91%). Riêng Trung Quốc, có đến 99% bài báo gửi cho tập san Circulation Research bị từ chối vì chất lượng quá kém và tiếng Anh chưa đạt.<br />
<br />
Một phân tích thú vị khác của tập san American Journal of Roentgenology (IF ~4) cho thấy một “bức tranh” toàn cục thú vị (Bảng 2). Trong thời gian từ 2003 đến 2005, tập san này nhận được 5242 bài báo khoa học từ khắp nơi trên thế giới, nhưng chủ yếu từ Mĩ (43%), Nhật (11%), Hàn Quốc (9%), Đức (5%), và Canada (4%). Tuy nhiên, tỉ lệ bài báo được chấp nhận cho đăng dao động lớn giữa các nước. Trong số 2252 bài báo từ Mĩ, 72% được chấp nhận cho công bố, và trong tổng số 2990 bài báo ngoài Mĩ, tỉ lệ được chấp nhận là 60%. Nước có tỉ lệ chấp nhận thấp nhất là Ấn Độ, với chỉ 27% bài báo được công bố. Phân tích chi tiết theo ngôn ngữ mẹ đẻ, thì trong số 2684 bài báo từ các nước nói tiếng Anh (Mĩ, Canada, Anh, Úc) tỉ lệ chấp nhận cho công bố là ~71%. Trong số 2558 bài báo xuất phát từ những nước không nói tiếng Anh, tỉ lệ chấp nhận chỉ 60%.<br />
<br />
Các nhà nghiên cứu phân chia các nguyên nhân từ chối thành 6 nhóm: nhóm: I liên quan đến thiếu cái mới hay dữ liệu không có ích; nhóm II liên quan đến những khuyết điểm về phương pháp và logic; nhóm III, khuyết điểm về phân tích dữ liệu; nhóm IV, vấn đề ngôn ngữ; nhóm V, chuyên gia bình duyệt không thích; và nhóm VI, không thích hợp cho tập san. <br />
<br />
Khi phân tích lí do từ chối theo từng nhóm và nước (Bảng 3) chúng ta thấy phần lớn (60%) bài báo bị từ chối là thuộc vào nhóm I, tiếp đến là nhóm II (17%), nhóm III (7%), nhóm IV (3.5%), nhóm V (8%), và nhóm VI (4.4%).<br />
<br />
Phân tích lí do từ chối, chúng ta thấy rõ ràng có sự khác biệt giữa các nước. Đối với những nước như Hàn Quốc, Thổ Nhĩ Kì, Thụy Sĩ, Đài Loan, Ý, Ấn Độ, và Do Thái, lí do từ chối lớn nhất ở các nước là nhóm I, tức thiếu cái mới trong nghiên cứu. Nói cách khác, các nước này có xu hướng làm những công trình nghiên cứu –nói theo tiếng Anh là – “me too” (tức chỉ lặp lại những gì các nước khác đã làm mà phương pháp, kết quả và cách diễn giải hoàn toàn không có gì mới.<br />
<br />
Điều đáng ngạc nhiên là trong số những bài báo từ Đức và Áo bị từ chối, có đến 33-40% là do những sai sót về phương pháp và lí luận! Riêng những nghiên cứu từ Trung Quốc thì trong số bài báo bị từ chối, 52% là do thiếu cái mới, 17% do vấn đề tiếng Anh, 14% là do khuyết điểm trong phương pháp nghiên cứu là logic, và 6% do phân tích dữ liệu sai.<br />
<br />
<span style="font-weight: bold;">Vài nhận xét </span><br />
<br />
Những dữ liệu trên đây cung cấp cho chúng ta một bức tranh tương đối toàn diện về tình hình công bố quốc tế đối với các nhà khoa học trong ngành y sinh học. Có thể tóm tắt các dữ liệu trên đây qua 3 điểm chính như sau:<ul>
<li>trong tất cả các nguyên nhân từ chối công bố quốc tế, gần 2/3 là do khuyết điểm trong khâu thiết kế nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu;</li>
<li>những khuyết điểm này thường tập trung vào 2 khía cạnh chính: thiếu cái mới và lí luận logic;</li>
<li>bài bào từ Mĩ và các nước nói tiếng Anh có tỉ lệ từ chối thấp hơn bài báo từ các nước không nói tiếng Anh;<br />
</li></ul>
<br />
Tuy nhiên, những phân tích trên đây cũng có vài hạn chế. Thứ nhất là các dữ liệu được thu thập từ các tổng biên tập, nhà khoa học và tập san trong lĩnh vực y sinh học; do đó có thể chưa phản ảnh đúng tình trạng thực tế trong các lĩnh vực khoa học khác như kĩ thuật, khoa học tự nhiên, khoa học xã hội. Thứ hai là dữ liệu từ một tập san nhỏ (hay chỉ có 25% nhà nghiên cứu trả lời) nên chắc chắn ngay cả trong lĩnh vực y sinh học cũng chưa phản ảnh đúng thực trạng, dù bức tranh chung thì chắc cũng khá đầy đủ.<br />
<br />
Nếu những dữ liệu và phân tích trên đây cung cấp cho giới khoa học, nhất là trong lĩnh vực y sinh học, vài kinh nghiệm, tôi nghĩ đến những khía cạnh sau đây. Thứ nhất là khi có ý tưởng làm nghiên cứu, cần phải chú trọng đến cái mới. Cái mới ở đây không chỉ về ý tưởng, mà có thể là cái mới về phương pháp nghiên cứu (dù ý tưởng không mới), cái mới về kết quả và cách trình bày, và cái mới trong cách lí giải kết quả nghiên cứu. Thiếu những cái mới này thì nghiên cứu chỉ là một dạng “me too”, tức chỉ hoàn toàn bắt chước người khác từ A đến Z. Nếu là nghiên cứu “me too” thì rất khó được chấp nhận cho công bố trên các tập san có uy tín cao, hay dù có cơ hội được công bố thì tập san cũng thuộc vào loại làng nhàng, dưới trung bình.<br />
<br />
Thứ hai là cần chú trọng đến khâu thiết kế nghiên cứu và phương pháp phân tích. Trong nghiên cứu thực nghiệm, thiết kế và phương pháp đóng vai trò cực kì quan trọng. Thiết kế nghiên cứu không thích hợp, thì dữ liệu có thể không có giá trị khoa học cao, và không có cơ may công bố trên các tập san có uy tín cao. Chẳng hạn như một công trình nghiên cứu y khoa thiết kế theo mô hình có yếu tố thời gian và có nhóm chứng lúc nào cũng có giá trị khoa học hơn là một công trình “nghiên cứu cắt ngang” (cross-sectional study). Trong nghiên cứu y học, phương pháp sai thì kết quả cũng sai hay không có giá trị cao. Chẳng hạn như nếu nghiên cứu về bệnh tiểu đường hay dinh dưỡng mà không có các đo lường về lượng mỡ bằng phương pháp DXA thì dữ liệu khó mà xem là có giá trị khoa học cao. Một nghiên cứu với thiết kế và phương pháp chưa đạt thì xác suất bị từ chối rất cao.<br />
<br />
Thứ ba là cần thạo tiếng Anh. Phần lớn các tập san quốc tế, dù là tập san ở các nước Bắc Âu hay châu Á Thái Bình Dương đều sử dụng tiếng Anh. Có thể nói không ngoa rằng tiếng Anh đã trở thành một ngôn ngữ của cộng đồng khoa học. Đối với các nhà khoa học Việt Nam, tiếng Anh là một vấn đề lớn, vì phần lớn các nhà khoa học không thạo tiếng Anh. Ngay cả những người có khả năng giao tiếp bằng tiếng Anh, họ cũng rất khó viết nổi một bài báo khoa học. Ngay cả những người viết được thì xác suất sai sót về cú pháp, cách diễn đạt rất cao. Có thể nói không ngoa rằng không một bài báo y khoa nào được công bố trên các tập san ở trong nước viết đúng tiếng Anh! Nhưng như chúng ta thấy qua các dữ liệu trên, tiếng Anh là một rào cản đáng kể (nhưng không phải là rào cản duy nhất hay lớn nhất) đối với các nhà khoa học ngoài các nước nói tiếng Anh. Do đó, chúng ta cần phải đẩy mạnh việc trao dồi tiếng Anh trong giới khoa học, và tổ chức nhiều khóa học về cách viết bài báo khoa học bằng tiếng Anh. Tuy nhiên, tiếng Anh không phải là nguyên nhân chính để từ chối một công trình nghiên cứu có chất lượng cao. Ngược lại, tiếng Anh “văn hay chữ tốt” cũng không thể bù đấp được những khiếm khuyết về cái mới và phần thiết kế cũng như phương pháp nghiên cứu.<br />
<br />
Đối với giới làm nghiên cứu khoa học, chuyện vui buồn trong công bố công trình nghiên cứu xảy ra thường xuyên. Có nhiều khi bài báo sau khi qua nhiều sửa đổi được chấp nhận cho công bố, và dĩ nhiên đó là một tin mừng. Nếu tập san có hệ số impact factor cao thì tác giả có khi tổ chức tiệc ăn mừng. Mừng vì công trình của mình được công bố trên một tập san lớn, và có cơ hội chia sẻ kinh nghiệm với đồng nghiệp quốc tế. Nhưng hầu như bất cứ ai làm việc trong nghiên cứu khoa học đều phải trải qua nhiều lần khi mà bài báo nghiên cứu của mình bị tập san khoa học từ chối không công bố. Đối với những nghiên cứu sinh lần đầu nhận được lá thư của tổng biên tập thông báo cho biết bài báo không được chấp nhận cho công bố là một bản tin sốc. Có khi sốc đến cao độ. Có khi buồn chán. Trong bối cảnh buồn chán đó, nhà khoa học có kinh nghiệm thường phải tỏ ra bình tĩnh để xem xét lại nguyên nhân bài báo bị từ chối. Cần phải biến sự việc tiêu cực (bị từ chối) thành một cơ hội lí tưởng để tự vấn. Trong quá trình tự vấn này, một số câu hỏi thông thường cần đặt ra:<br />
<br />
<span style="color: #000080;"><ul>
<li>Tựa đề bài báo có phù hợp với dữ liệu nghiên cứu?</li>
<li>Kết quả nghiên cứu có nhất quán với những lí giải trong phần bàn luận?</li>
<li>Có phải lí giải trong bài báo là lí giải duy nhất, hay còn một lí giải, một cách diễn giải nào khác?</li>
<li>Có cần thu thập thêm dữ liệu?</li>
<li>Có cần một phương pháp phân tích khác tốt hơn?</li>
<li>Kết quả có ý nghĩa thống kê và ý nghĩa thực tiễn?</li>
<li>Kết quả nghiên cứu đã được trình bày một cách logic, mạch lạc, và rõ ràng?</li>
<li>Tiếng Anh đã trao chuốt chưa?<br />
</li></ul>
</span><br />
<br />
Trả lời được những câu hỏi tự vấn trên chắc chắn sẽ có hiệu quả cải tiến bài báo một cách đáng kể. Cố nhiên, khi bài báo bị từ chối thì điều đó không có nghĩa là công trình chấm dứt ở đó, mà chúng ta vẫn có quyền khiếu nại, hay trong nhiều trường hợp, chúng ta có thể chỉnh sửa và nộp cho một tập san khác. Tuy nhiên, “biết người biết ta, trăm trận trăm thắng”, những lí do từ chối được mô tả trong bài viết này là những kinh nghiệm quí báu để chúng ta tự đánh giá và chuẩn bị cho nhiều nghiên cứu sau tốt hơn.<br />
<br />
[align=right]<span style="font-weight: bold;">NVT</span></div>[/align]]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[PHP help]]></title>
			<link>http://forum.vatlieu.us/showthread.php?tid=1484</link>
			<pubDate>Fri, 26 Feb 2010 23:47:55 -0500</pubDate>
			<guid isPermaLink="false">http://forum.vatlieu.us/showthread.php?tid=1484</guid>
			<description><![CDATA[Hey can some one help me out I'm trying put this on my website but when it's in php code I get errors so can some help me out to make it work in php code<br />
<br />
&lt;script type="text/javascript"&gt;<br />
&#36;(document).ready(function() {<br />
&#36;("a.zoom").fancybox();<br />
<br />
&#36;("a.zoom1").fancybox({<br />
'overlayOpacity'   :   0.7,<br />
'overlayColor'      :   '#000000'<br />
});<br />
<br />
&#36;("a.zoom2").fancybox({<br />
'zoomSpeedIn'      :   500,<br />
'zoomSpeedOut'      :   500<br />
});<br />
});<br />
&lt;/script&gt;]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[Hey can some one help me out I'm trying put this on my website but when it's in php code I get errors so can some help me out to make it work in php code<br />
<br />
&lt;script type="text/javascript"&gt;<br />
&#36;(document).ready(function() {<br />
&#36;("a.zoom").fancybox();<br />
<br />
&#36;("a.zoom1").fancybox({<br />
'overlayOpacity'   :   0.7,<br />
'overlayColor'      :   '#000000'<br />
});<br />
<br />
&#36;("a.zoom2").fancybox({<br />
'zoomSpeedIn'      :   500,<br />
'zoomSpeedOut'      :   500<br />
});<br />
});<br />
&lt;/script&gt;]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[The new fastest graphics card on the planet - 8800 Ultra]]></title>
			<link>http://forum.vatlieu.us/showthread.php?tid=1483</link>
			<pubDate>Fri, 26 Feb 2010 23:45:38 -0500</pubDate>
			<guid isPermaLink="false">http://forum.vatlieu.us/showthread.php?tid=1483</guid>
			<description><![CDATA[Nvidia recently announced their 8800 Ultra graphics card. It will perform between 10 and 15% faster then their previous most powerful graphics card, the 8800GTX. The 8800GTX right now runs a little over &#36;500, while the 8800 Ultra will have a suggested retail price of &#36;829 and higher! The 8800 Ultra, like the 8800GTX, will feature 768MB's of dedicated video memory.This is not only the fastest graphics card to date, but will also be the most expensive gaming graphics card ever released.To take full advantage of DX10 though, you must have windows vista and a game that supports DX10.Here is a list of a few games that will be released and will support DX10: Lost Planet: Extreme Condition, Crysis, Age of Conan, Hellgate: London, Company of Heroes: Opposing Fronts, World in Conflict, BioShock, PT Boats, and Cryostasis.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[Nvidia recently announced their 8800 Ultra graphics card. It will perform between 10 and 15% faster then their previous most powerful graphics card, the 8800GTX. The 8800GTX right now runs a little over &#36;500, while the 8800 Ultra will have a suggested retail price of &#36;829 and higher! The 8800 Ultra, like the 8800GTX, will feature 768MB's of dedicated video memory.This is not only the fastest graphics card to date, but will also be the most expensive gaming graphics card ever released.To take full advantage of DX10 though, you must have windows vista and a game that supports DX10.Here is a list of a few games that will be released and will support DX10: Lost Planet: Extreme Condition, Crysis, Age of Conan, Hellgate: London, Company of Heroes: Opposing Fronts, World in Conflict, BioShock, PT Boats, and Cryostasis.]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Joomla tutorial includes:]]></title>
			<link>http://forum.vatlieu.us/showthread.php?tid=1482</link>
			<pubDate>Fri, 26 Feb 2010 23:43:44 -0500</pubDate>
			<guid isPermaLink="false">http://forum.vatlieu.us/showthread.php?tid=1482</guid>
			<description><![CDATA[Hi,<br />
* How to install Joomla on your hosting account: installation with Fantastico and manual installation;<br />
* How to change/install Joomla templates and links to FREE Joomla templates;<br />
* How to add new languages to Joomla;<br />
* How to administer your Joomla system - how to set meta info, manage emails, stats, and use search engine friendly URLs;<br />
* How to manage your content in Joomla - how to create new categories and how to add new articles;<br />
* How to manage banner ads;<br />
* How to add VirtueMart shopping cart to Joomla;<br />
* How to have Joomla and SMF forum;<br />
* How to add a Calendar module to Joomla;<br />
* More information, download links and how to install instructions for the most popular Joomla components, modules and mambots;<br />
* How to use Google AdSense with Joomla;<br />
* How to optimize your Joomla website;<br />
* How to backup your Joomla site;<br />
* How to upgrade your Joomla system;<br />
* NEW: Visit our Joomla FAQ for more answers about managing your Joomla.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[Hi,<br />
* How to install Joomla on your hosting account: installation with Fantastico and manual installation;<br />
* How to change/install Joomla templates and links to FREE Joomla templates;<br />
* How to add new languages to Joomla;<br />
* How to administer your Joomla system - how to set meta info, manage emails, stats, and use search engine friendly URLs;<br />
* How to manage your content in Joomla - how to create new categories and how to add new articles;<br />
* How to manage banner ads;<br />
* How to add VirtueMart shopping cart to Joomla;<br />
* How to have Joomla and SMF forum;<br />
* How to add a Calendar module to Joomla;<br />
* More information, download links and how to install instructions for the most popular Joomla components, modules and mambots;<br />
* How to use Google AdSense with Joomla;<br />
* How to optimize your Joomla website;<br />
* How to backup your Joomla site;<br />
* How to upgrade your Joomla system;<br />
* NEW: Visit our Joomla FAQ for more answers about managing your Joomla.]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[HOW TO START AND OPERATE A ROOM-MATE FINDING SERVICE]]></title>
			<link>http://forum.vatlieu.us/showthread.php?tid=1481</link>
			<pubDate>Thu, 25 Feb 2010 00:15:18 -0500</pubDate>
			<guid isPermaLink="false">http://forum.vatlieu.us/showthread.php?tid=1481</guid>
			<description><![CDATA[Hello friends <br />
<br />
Do you know below listed.<br />
<br />
The average income for owners of this kind of business is around &#36;400,000 a year!<br />
<br />
Best of all, here's a business that you can start with an absolute minimum investment.<br />
<br />
Practically anyone who lives in a city anywhere in the country can expect to do just about as well, and with a bit of imagination, mixed with some business sense, you should be able to do even better!<br />
<br />
Income and market potentials for a service such as this are truly fantastic, especially in bigger cities!<br />
<br />
Rent increases that have far outpaced wage increases have brought about a tremendous need for a method to alleviate the cost of housing.<br />
<br />
Also, many apartment complexes are being converted into expensive condominiums. <br />
<br />
Whats your.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[Hello friends <br />
<br />
Do you know below listed.<br />
<br />
The average income for owners of this kind of business is around &#36;400,000 a year!<br />
<br />
Best of all, here's a business that you can start with an absolute minimum investment.<br />
<br />
Practically anyone who lives in a city anywhere in the country can expect to do just about as well, and with a bit of imagination, mixed with some business sense, you should be able to do even better!<br />
<br />
Income and market potentials for a service such as this are truly fantastic, especially in bigger cities!<br />
<br />
Rent increases that have far outpaced wage increases have brought about a tremendous need for a method to alleviate the cost of housing.<br />
<br />
Also, many apartment complexes are being converted into expensive condominiums. <br />
<br />
Whats your.]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Convince mah DAD!!!!!!]]></title>
			<link>http://forum.vatlieu.us/showthread.php?tid=1478</link>
			<pubDate>Tue, 23 Feb 2010 04:53:12 -0500</pubDate>
			<guid isPermaLink="false">http://forum.vatlieu.us/showthread.php?tid=1478</guid>
			<description><![CDATA[Hey guys,<br />
Actually we (our family) wants to buy a dog(pug) {GOd that itself is getting me so excited} but my dad is not agreeing to it.<br />
<br />
I need a favour, actually two favours<br />
1: please suggest me ways to convince my DAD.<br />
2: please plead my dad to let us buy a dog.<br />
<br />
p.n:I'm sincerely ready to bear all the responsibilites; swear on offwalk which is my first love.<br />
<br />
Please guys,<br />
thanx a lot]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[Hey guys,<br />
Actually we (our family) wants to buy a dog(pug) {GOd that itself is getting me so excited} but my dad is not agreeing to it.<br />
<br />
I need a favour, actually two favours<br />
1: please suggest me ways to convince my DAD.<br />
2: please plead my dad to let us buy a dog.<br />
<br />
p.n:I'm sincerely ready to bear all the responsibilites; swear on offwalk which is my first love.<br />
<br />
Please guys,<br />
thanx a lot]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Wink Do you follow any diet chart ?]]></title>
			<link>http://forum.vatlieu.us/showthread.php?tid=1477</link>
			<pubDate>Tue, 23 Feb 2010 04:51:58 -0500</pubDate>
			<guid isPermaLink="false">http://forum.vatlieu.us/showthread.php?tid=1477</guid>
			<description><![CDATA[We can see that many rich people take everything according to chart and schedules and many middle class families also started doing this .<br />
<br />
But what about you . Do you have any Diet chart or have anything what you get .<br />
<br />
Like subha allo ke prathe ho ya maggi , apun ke liye kuch bhi chalega .]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[We can see that many rich people take everything according to chart and schedules and many middle class families also started doing this .<br />
<br />
But what about you . Do you have any Diet chart or have anything what you get .<br />
<br />
Like subha allo ke prathe ho ya maggi , apun ke liye kuch bhi chalega .]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Do you trust online friends?]]></title>
			<link>http://forum.vatlieu.us/showthread.php?tid=1476</link>
			<pubDate>Tue, 23 Feb 2010 04:46:53 -0500</pubDate>
			<guid isPermaLink="false">http://forum.vatlieu.us/showthread.php?tid=1476</guid>
			<description><![CDATA[You must have many online friends and it is also possible whom you have never seen.<br />
<br />
Do you trust them, when you are talking to them or dealing with them?<br />
<br />
What are the basis of judging him/her to have the trust on them?]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[You must have many online friends and it is also possible whom you have never seen.<br />
<br />
Do you trust them, when you are talking to them or dealing with them?<br />
<br />
What are the basis of judging him/her to have the trust on them?]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Do you walk very fast, fast or slow?]]></title>
			<link>http://forum.vatlieu.us/showthread.php?tid=1475</link>
			<pubDate>Tue, 23 Feb 2010 04:45:10 -0500</pubDate>
			<guid isPermaLink="false">http://forum.vatlieu.us/showthread.php?tid=1475</guid>
			<description><![CDATA[Many times we find few people those are too slow or very fast in walking . So what about you .<br />
<br />
I walk in medium speed and never try to hurry or you can say that to walk 10 minutes I take 15 minutes while enjoying views .<br />
<br />
What about you ?]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[Many times we find few people those are too slow or very fast in walking . So what about you .<br />
<br />
I walk in medium speed and never try to hurry or you can say that to walk 10 minutes I take 15 minutes while enjoying views .<br />
<br />
What about you ?]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Getting older matters to you?]]></title>
			<link>http://forum.vatlieu.us/showthread.php?tid=1474</link>
			<pubDate>Tue, 23 Feb 2010 04:42:34 -0500</pubDate>
			<guid isPermaLink="false">http://forum.vatlieu.us/showthread.php?tid=1474</guid>
			<description><![CDATA[Does anyone of you bother about getting older? What do you think about the age factor? Is it mere a number or you are really getting conscious about getting older?<br />
Are you worried about all the symptoms of older age like wrinkle, loose skin, lower stamina, etc?<br />
<br />
Feel free to share your views and opinion here]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[Does anyone of you bother about getting older? What do you think about the age factor? Is it mere a number or you are really getting conscious about getting older?<br />
Are you worried about all the symptoms of older age like wrinkle, loose skin, lower stamina, etc?<br />
<br />
Feel free to share your views and opinion here]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Đạo văn, diễn giải, tóm lược và trích dẫn]]></title>
			<link>http://forum.vatlieu.us/showthread.php?tid=1473</link>
			<pubDate>Mon, 22 Feb 2010 05:33:28 -0500</pubDate>
			<guid isPermaLink="false">http://forum.vatlieu.us/showthread.php?tid=1473</guid>
			<description><![CDATA[<div style="text-align: justify;"><span style="font-size: x-large;"><span style="font-weight: bold;">Tiếng Anh bài 13: đạo văn, diễn giải, tóm lược và trích dẫn</span></span><br />
Hôm trước tôi có đưa tin về một trường hợp đạo văn của một giáo sư người Nam Dương. Đọc kĩ bài báo của ông giáo sư này và bài báo gốc (dài hơn nhiều) của tác giả người Úc, tôi thấy hình như lỗi chính của ông giáo sư là thiếu ghi nguồn và cách diễn giải chưa đạt chuẩn làm cho phạm lỗi đạo văn. Thật ra, đối với nhiều người Việt Nam (và Á châu nói chung), kể cả học sinh, sinh viên, nghiên cứu sinh và thậm chí giáo sư, tôi thấy người ta khó phân biệt giữa đạo văn (plagiarism), diễn giải (paraphrase), tóm lược (summary), và có khi cả trích dẫn (quotation). Do đó, cần phải xác định lại 4 hình thức này:<br />
<br />
1. Trích dẫn, như chúng ta biết, có nghĩa đơn giản là lấy nguyên văn của tác giả khác nhưng phải để trong ngoặc “ “ và phải ghi nhận nguồn. Một ví dụ trích dẫn là:<br />
<br />
A WHO Expert Consultation states that “[…&#93; overweight (≥ 25 kg/m2) corresponded to 31-39% (mean 35%) body fat in females and 18-27% (mean 22%) body fat in males. If these criteria for the percentage body fat for overweight and obesity are applied to the Asian populations, the corresponding BMIs can be calculcated with countru-specific equations” (WHO Expert Consutation, 2004). <br />
<br />
Ở đây, chúng ta thấy tác giả để nguyên câu văn của WHO trong ngoặc kép, và khi đóng ngoặc kép thì ghi nguồn của đoạn văn.<br />
<br />
Trong những bài báo khoa học, ít khi nào người ta trích dẫn, vì nó gây một cảm giác không mấy thoải mái. Trích dẫn nguyên văn có khi được xem là một hành động lười biếng, hay là một cách tỏ thái độ khiêu khích, mỉa mai. Nhưng tôi thấy trong các bài báo khoa học xã hội và nhân văn, các tác giả có xu hướng trích dẫn rất nhiều, có lẽ do “văn hóa” làm việc của họ. Mặc dù không có qui ước nào vế lượng trích dẫn bao nhiêu là thích hợp, nhưng hình như ai cũng đồng ý rằng một bài báo mà lượng trích dẫn hơn 10% được xem là quá mức.<br />
<br />
2. Tóm lược là hình thức diễn tả lại ý tưởng chính của đoạn văn gốc bằng một đoạn văn rất cô đọng và rất chung chung, mà không hẳn dùng lại những chữ của tác giả gốc. Thông thường một đoạn văn tóm lược chỉ có 3 đến 7 câu văn.<br />
<br />
Tóm lược cũng là một nghệ thuật, và có khi đòi hỏi người viết phải có một nội lực khá về ngữ vựng. Sau đây là vài chỉ dẫn để làm một tóm lược tốt. Trước hết là đọc bài báo. Kế đến là đọc lại bài báo, đánh dấu (gạch dòng) những ý tưởng quan trọng, dùng dấu hình tròn để đánh dầu những từ ngữ hay thuật ngữ quan trọng, và tìm điểm chính của bài báo. Chia bài báo làm nhiều đoạn về ý tưởng và viết một câu văn tóm lược cho từng đoạn. Kế tiếp là viết một đoạn văn tóm lược. Nên nhớ rằng trong đoạn văn tóm lược, tác giả có thể<br />
<br />
Ví dụ như đoạn văn sau đây:<br />
<br />
Students frequently overuse direct quotation in taking notes, and as a result they overuse quotations in the final [research&#93; paper. Probably only about 10% of your final manuscript should appear as directly quoted matter. Therefore, you should strive to limit the amount of exact transcribing of source materials while taking notes. Lester, James D. Writing Research Papers. 2nd ed. (1976): 46-47.<br />
<br />
có thể tóm lược như đoạn dưới đây:<br />
<br />
Students should take just a few notes in direct quotation from sources to help minimize the amount of quoted material in a research paper (Lester 46-47).<br />
<br />
Ở đây, tác giả vẫn giữ ý chính của đoạn văn gốc và có ghi nguồn, nhưng câu chữ đã được lám ngắn gọn lại, bỏ bớt những chi tiết như 10%. Đây là cách tóm lược hợp lí, không phải đạo văn.<br />
<br />
3. Đạo văn: Hội giáo sư đại học Mĩ (American Association of University Professors) định nghĩa đạo văn (plagiarism) là lấy ý tưởng, phương pháp, hay chữ của người khác làm của mình, mà không ghi nhận nguồn gốc và tác giả (nguyên văn: "taking over the ideas, methods, or written words of another, without acknowledgment and with the intention that they be taken as the work of the deceiver.") Đạo văn là một “tội phạm” trong khoa học, một lỗi không thể chấp nhận được. Đã có rất nhiều trường hợp mà những nhà khoa học, sinh viên, nghiên cứu sinh, v.v… bị tiêu tan sự nghiệp chỉ vì đạo văn.<br />
<br />
Đạo văn thường xuất hiện dưới nhiều hình thức, chứ không phải chỉ trong bài báo khoa học hay sách vở. Chẳng hạn như một bác sĩ trình bày báo cáo hay bài giảng bằng powerpoint ở một hội nghị, seminar, symposium, v.v… có sử dụng ý tưởng, số liệu, hình ảnh, câu văn của người khác mà không ghi rõ nguồn thì vẫn có thể xem là một hình thức đạo văn.<br />
<br />
Đây là một đoạn văn trong cuốn Lizzie Borden: A Case Book of Family and Crime in the 1890s của Joyce Williams và đồng tác giả (trang 1):<br />
<br />
The rise of industry, the growth of cities, and the expansion of the population were the three great developments of late nineteenth century American history. As new, larger, steam-powered factories became a feature of the American landscape in the East, they transformed farm hands into industrial laborers, and provided jobs for a rising tide of immigrants. With industry came urbanization the growth of large cities (like Fall River, Massachusetts, where the Bordens lived) which became the centers of production as well as of commerce and trade.<br />
<br />
và thử đọc đoạn văn sau đây:<br />
<br />
The increase of industry, the growth of cities, and the explosion of the population were three large factors of nineteenth century America. As steam-driven companies became more visible in the eastern part of the country, they changed farm hands into factory workers and provided jobs for the large wave of immigrants. With industry came the growth of large cities like Fall River where the Bordens lived which turned into centers of commerce and trade as well as production.<br />
<br />
Đoạn văn này được xem là đạo văn. Tại sao? Lí do thứ nhất là tác giả chỉ thay đổi vài chữ và vài câu, thay đổi thứ tự của đoạn văn gốc. Lí do thứ hai là tác giả không ghi nguồn gốc của ý tưởng.<br />
<br />
Để tránh đạo văn, cần phải đề rõ nguồn của ý tưởng, dữ liệu của người khác trong bài báo khoa học của mình. Một cách tránh đạo văn là học cách tóm lược (như trình bày trên) và diễn giải (paraphrase sẽ trình bày dưới đây).<br />
<br />
4. Diễn giải: Theo cách hiểu chung thì diễn giải có nghĩa là một cách viết lại đoạn văn gốc của người khác với chữ của chính mình (nhưng ý tưởng thì vẫn mượn từ tác giả khác) và nhất định phải ghi nguồn.<br />
<br />
Trong báo cáo khoa học, kĩ năng diễn giải rất quan trọng, vì nó tạo cơ hội cho các tác giả đang học tiếng Anh một cách học tiếng Anh thực tế nhất và hữu hiệu nhất. Kinh nghiệm của tôi cho thấy cách diễn giải tốt nhất là đọc đi đọc lại đoạn văn gốc cho đến khi hiểu đầy đủ ý nghĩa của đoạn văn, sau đó đặt đoạn văn gốc qua một bên, và viết lại đoạn văn với từ và cách trình bày của chính mình. Nếu cần, viết vài chữ ở phía dưới đoạn văn mới viết để tự nhắc nhở mình nên sử dụng hay thay đổi câu văn này như thế nào. Một vài điều quan trọng cần nhớ khi diễn giải câu văn của người khác như sau:<br />
<br />
Thứ nhất là giữ đúng nghĩa của bản gốc. Nên nhớ rằng chúng ta chỉ diễn giải lại, nên không được thay đổi những mối quan hệ trong bản gốc và ý nghĩa mà tác giả muốn nói.<br />
<br />
Thứ hai là dùng từ đồng nghĩa (synonym). Điều này đòi hỏi người viết phải có một vốn ngữ vựng khá để có thể thay đổi chữ của người khác mà vẫn không thay đổi ý nghĩa gốc. Đối với những thuật ngữ thì cách an toàn nhất là không nên thay đổi, vì làm như thế rất ư là ngô nghê!<br />
<br />
Thứ ba là thay đổi văn phạm. Cách tốt nhất là cắt câu văn dài thành một vài câu văn ngắn, hoặc gép vài câu văn quá ngắn thành một câu văn cô đọng hơn. Cách thứ hai là thay đổi thì active thành thì passive cũng là một hình thức rất hữu hiệu.<br />
<br />
Thứ tư là (nếu được) thay đổi thứ tự của thông tin. Đôi khi các tác giả viết văn cũng rất khó hiểu vì họ trình bày nhiều thông tin làm loãng ý chính, và đây chính là cơ hội lí tưởng để mình diễn giải thì ý của mình bẳng cách sắp xếp lại ý tưởng và thông tin một cách logic hơn.<br />
<br />
Thứ năm là để ý đến thái độ của tác giả đến đề tài. Đôi khi tác giả để lộ thái độ và cảm tính với đề tài (qua những từ như certain, uncertain, critical, striking, remarkable, wonderful, v.v…) và viết lại theo hình thức trung hòa hơn. Trong khoa học văn chương cần phải … lạnh lùng, tránh từ ngữ cảm tính.<br />
<br />
Quay lại câu văn gốc trên,<br />
<br />
The rise of industry, the growth of cities, and the expansion of the population were the three great developments of late nineteenth century American history. As new, larger, steam-powered factories became a feature of the American landscape in the East, they transformed farm hands into industrial laborers, and provided jobs for a rising tide of immigrants. With industry came urbanization the growth of large cities (like Fall River, Massachusetts, where the Bordens lived) which became the centers of production as well as of commerce and trade.<br />
<br />
nếu tác giả viết:<br />
<br />
Fall River, where the Borden family lived, was typical of northeastern industrial cities of the nineteenth century. Steam-powered production had shifted labor from agriculture to manufacturing, and as immigrants arrived in the US, they found work in these new factories. As a result, populations grew, and large urban areas arose. Fall River was one of these manufacturing and commercial centers (Williams 1).<br />
<br />
thì sẽ không xem là đạo văn mà là diễn tả lại ý chính của tác giả gốc. Đây là một cách diễn giải hợp lí, chấp nhận được, bởi vì tác giả giữ thông tin gốc qua cách dùng chữ, và cho biết nguồn gốc của ý tưởng.<br />
<br />
Như tôi nói ở trên, diễn giải một đoạn văn ngoài kĩ năng văn phạm, cú pháp, còn đòi hỏi một vốn ngữ vựng dồi dào. Ngữ vựng cho phép chúng ta dùng từ khác với từ gốc. Một số từ có thể thay thế mà có thể không làm thay đổi ý nghĩa gốc như sau:<br />
<br />
Từ chỉ không gian: above, below, here, there, v.v...<br />
<br />
Từ chỉ thời gian: after, before, currently, at present, during, earlier, later, v.v...<br />
<br />
Từ chỉ ví dụ: for example, for instance, v.v...<br />
<br />
Từ chỉ thêm nữa: additionally, in addition, also, moreover, furthermore, equally important, v.v...<br />
<br />
Từ chỉ tương đương: also, likewise, in the same way, similarly, v.v...<br />
<br />
Từ chỉ ngoại lệ: but, yet, however, nonetheless, on the other hand, on the contrary, v.v...<br />
<br />
Từ chỉ loạt: first, second, third, next, then, v.v...<br />
<br />
Từ nhấn mạnh: indeed, in fact, of course, v.v...<br />
<br />
Từ chỉ nguyên nhân và hệ quả: accordingly, consequently, as a result, as a consequence, therefore, thus, v.v...<br />
<br />
Từ kết luận: finally, in conclusion, in summary, on the whole, in the end, v.v...<br />
<br />
Đạo văn trong khoa học được nhắc đến rất nhiều lần, và một phần không nhỏ có liên quan đến sinh viên mà tiếng Anh không phải là tiếng mẹ đẻ. Đã có nhiều trường hợp luận án bị thu hồi vì vấn đề đạo văn. Khi người ta làm nghiên cứu ở sinh viên Mã Lai đang học tại Úc thì phát hiện rằng họ không cố ý đạo văn, nhưng chỉ vì họ không phân biệt được khác biệt giữa đạo văn, diễn giải, và tóm lược. Tôi hi vọng bài này sẽ giúp một phần cho “phe ta” phân biệt được 3 hình thức trên và tránh phạm phải lỗi lầm đáng tiếc.<br />
<br />
Viết bài báo khoa học không đơn giản như nhiều người tưởng. Không biết các ngành khác thì sao, nhưng trong lĩnh vực y khoa thì viết một bài báo khoa học 10 trang thường kéo dài khoảng 3 tháng. Nói như vậy để các bạn mới vào “nghề” không nên đánh giá thấp quá trình và kĩ năng viết một bài báo khoa học.<br />
<br />
NVT<br />
<br />
TB: M. Roig có một bài rất đầy đủ về đạo văn ở đây:<br />
<a href="http://facpub.stjohns.edu/~roigm/plagiarism/Index.html" target="_blank">http://facpub.stjohns.edu/~roigm/plagiarism/Index.html</a></div>
<br />
Chi tiết các bài khác, xem tại đây: <a href="http://forum.vatlieu.us/showthread.php?tid=552&amp;pid=1077#pid1077" target="_blank">http://forum.vatlieu.us/showthread.php?t...77#pid1077</a>]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<div style="text-align: justify;"><span style="font-size: x-large;"><span style="font-weight: bold;">Tiếng Anh bài 13: đạo văn, diễn giải, tóm lược và trích dẫn</span></span><br />
Hôm trước tôi có đưa tin về một trường hợp đạo văn của một giáo sư người Nam Dương. Đọc kĩ bài báo của ông giáo sư này và bài báo gốc (dài hơn nhiều) của tác giả người Úc, tôi thấy hình như lỗi chính của ông giáo sư là thiếu ghi nguồn và cách diễn giải chưa đạt chuẩn làm cho phạm lỗi đạo văn. Thật ra, đối với nhiều người Việt Nam (và Á châu nói chung), kể cả học sinh, sinh viên, nghiên cứu sinh và thậm chí giáo sư, tôi thấy người ta khó phân biệt giữa đạo văn (plagiarism), diễn giải (paraphrase), tóm lược (summary), và có khi cả trích dẫn (quotation). Do đó, cần phải xác định lại 4 hình thức này:<br />
<br />
1. Trích dẫn, như chúng ta biết, có nghĩa đơn giản là lấy nguyên văn của tác giả khác nhưng phải để trong ngoặc “ “ và phải ghi nhận nguồn. Một ví dụ trích dẫn là:<br />
<br />
A WHO Expert Consultation states that “[…] overweight (≥ 25 kg/m2) corresponded to 31-39% (mean 35%) body fat in females and 18-27% (mean 22%) body fat in males. If these criteria for the percentage body fat for overweight and obesity are applied to the Asian populations, the corresponding BMIs can be calculcated with countru-specific equations” (WHO Expert Consutation, 2004). <br />
<br />
Ở đây, chúng ta thấy tác giả để nguyên câu văn của WHO trong ngoặc kép, và khi đóng ngoặc kép thì ghi nguồn của đoạn văn.<br />
<br />
Trong những bài báo khoa học, ít khi nào người ta trích dẫn, vì nó gây một cảm giác không mấy thoải mái. Trích dẫn nguyên văn có khi được xem là một hành động lười biếng, hay là một cách tỏ thái độ khiêu khích, mỉa mai. Nhưng tôi thấy trong các bài báo khoa học xã hội và nhân văn, các tác giả có xu hướng trích dẫn rất nhiều, có lẽ do “văn hóa” làm việc của họ. Mặc dù không có qui ước nào vế lượng trích dẫn bao nhiêu là thích hợp, nhưng hình như ai cũng đồng ý rằng một bài báo mà lượng trích dẫn hơn 10% được xem là quá mức.<br />
<br />
2. Tóm lược là hình thức diễn tả lại ý tưởng chính của đoạn văn gốc bằng một đoạn văn rất cô đọng và rất chung chung, mà không hẳn dùng lại những chữ của tác giả gốc. Thông thường một đoạn văn tóm lược chỉ có 3 đến 7 câu văn.<br />
<br />
Tóm lược cũng là một nghệ thuật, và có khi đòi hỏi người viết phải có một nội lực khá về ngữ vựng. Sau đây là vài chỉ dẫn để làm một tóm lược tốt. Trước hết là đọc bài báo. Kế đến là đọc lại bài báo, đánh dấu (gạch dòng) những ý tưởng quan trọng, dùng dấu hình tròn để đánh dầu những từ ngữ hay thuật ngữ quan trọng, và tìm điểm chính của bài báo. Chia bài báo làm nhiều đoạn về ý tưởng và viết một câu văn tóm lược cho từng đoạn. Kế tiếp là viết một đoạn văn tóm lược. Nên nhớ rằng trong đoạn văn tóm lược, tác giả có thể<br />
<br />
Ví dụ như đoạn văn sau đây:<br />
<br />
Students frequently overuse direct quotation in taking notes, and as a result they overuse quotations in the final [research] paper. Probably only about 10% of your final manuscript should appear as directly quoted matter. Therefore, you should strive to limit the amount of exact transcribing of source materials while taking notes. Lester, James D. Writing Research Papers. 2nd ed. (1976): 46-47.<br />
<br />
có thể tóm lược như đoạn dưới đây:<br />
<br />
Students should take just a few notes in direct quotation from sources to help minimize the amount of quoted material in a research paper (Lester 46-47).<br />
<br />
Ở đây, tác giả vẫn giữ ý chính của đoạn văn gốc và có ghi nguồn, nhưng câu chữ đã được lám ngắn gọn lại, bỏ bớt những chi tiết như 10%. Đây là cách tóm lược hợp lí, không phải đạo văn.<br />
<br />
3. Đạo văn: Hội giáo sư đại học Mĩ (American Association of University Professors) định nghĩa đạo văn (plagiarism) là lấy ý tưởng, phương pháp, hay chữ của người khác làm của mình, mà không ghi nhận nguồn gốc và tác giả (nguyên văn: "taking over the ideas, methods, or written words of another, without acknowledgment and with the intention that they be taken as the work of the deceiver.") Đạo văn là một “tội phạm” trong khoa học, một lỗi không thể chấp nhận được. Đã có rất nhiều trường hợp mà những nhà khoa học, sinh viên, nghiên cứu sinh, v.v… bị tiêu tan sự nghiệp chỉ vì đạo văn.<br />
<br />
Đạo văn thường xuất hiện dưới nhiều hình thức, chứ không phải chỉ trong bài báo khoa học hay sách vở. Chẳng hạn như một bác sĩ trình bày báo cáo hay bài giảng bằng powerpoint ở một hội nghị, seminar, symposium, v.v… có sử dụng ý tưởng, số liệu, hình ảnh, câu văn của người khác mà không ghi rõ nguồn thì vẫn có thể xem là một hình thức đạo văn.<br />
<br />
Đây là một đoạn văn trong cuốn Lizzie Borden: A Case Book of Family and Crime in the 1890s của Joyce Williams và đồng tác giả (trang 1):<br />
<br />
The rise of industry, the growth of cities, and the expansion of the population were the three great developments of late nineteenth century American history. As new, larger, steam-powered factories became a feature of the American landscape in the East, they transformed farm hands into industrial laborers, and provided jobs for a rising tide of immigrants. With industry came urbanization the growth of large cities (like Fall River, Massachusetts, where the Bordens lived) which became the centers of production as well as of commerce and trade.<br />
<br />
và thử đọc đoạn văn sau đây:<br />
<br />
The increase of industry, the growth of cities, and the explosion of the population were three large factors of nineteenth century America. As steam-driven companies became more visible in the eastern part of the country, they changed farm hands into factory workers and provided jobs for the large wave of immigrants. With industry came the growth of large cities like Fall River where the Bordens lived which turned into centers of commerce and trade as well as production.<br />
<br />
Đoạn văn này được xem là đạo văn. Tại sao? Lí do thứ nhất là tác giả chỉ thay đổi vài chữ và vài câu, thay đổi thứ tự của đoạn văn gốc. Lí do thứ hai là tác giả không ghi nguồn gốc của ý tưởng.<br />
<br />
Để tránh đạo văn, cần phải đề rõ nguồn của ý tưởng, dữ liệu của người khác trong bài báo khoa học của mình. Một cách tránh đạo văn là học cách tóm lược (như trình bày trên) và diễn giải (paraphrase sẽ trình bày dưới đây).<br />
<br />
4. Diễn giải: Theo cách hiểu chung thì diễn giải có nghĩa là một cách viết lại đoạn văn gốc của người khác với chữ của chính mình (nhưng ý tưởng thì vẫn mượn từ tác giả khác) và nhất định phải ghi nguồn.<br />
<br />
Trong báo cáo khoa học, kĩ năng diễn giải rất quan trọng, vì nó tạo cơ hội cho các tác giả đang học tiếng Anh một cách học tiếng Anh thực tế nhất và hữu hiệu nhất. Kinh nghiệm của tôi cho thấy cách diễn giải tốt nhất là đọc đi đọc lại đoạn văn gốc cho đến khi hiểu đầy đủ ý nghĩa của đoạn văn, sau đó đặt đoạn văn gốc qua một bên, và viết lại đoạn văn với từ và cách trình bày của chính mình. Nếu cần, viết vài chữ ở phía dưới đoạn văn mới viết để tự nhắc nhở mình nên sử dụng hay thay đổi câu văn này như thế nào. Một vài điều quan trọng cần nhớ khi diễn giải câu văn của người khác như sau:<br />
<br />
Thứ nhất là giữ đúng nghĩa của bản gốc. Nên nhớ rằng chúng ta chỉ diễn giải lại, nên không được thay đổi những mối quan hệ trong bản gốc và ý nghĩa mà tác giả muốn nói.<br />
<br />
Thứ hai là dùng từ đồng nghĩa (synonym). Điều này đòi hỏi người viết phải có một vốn ngữ vựng khá để có thể thay đổi chữ của người khác mà vẫn không thay đổi ý nghĩa gốc. Đối với những thuật ngữ thì cách an toàn nhất là không nên thay đổi, vì làm như thế rất ư là ngô nghê!<br />
<br />
Thứ ba là thay đổi văn phạm. Cách tốt nhất là cắt câu văn dài thành một vài câu văn ngắn, hoặc gép vài câu văn quá ngắn thành một câu văn cô đọng hơn. Cách thứ hai là thay đổi thì active thành thì passive cũng là một hình thức rất hữu hiệu.<br />
<br />
Thứ tư là (nếu được) thay đổi thứ tự của thông tin. Đôi khi các tác giả viết văn cũng rất khó hiểu vì họ trình bày nhiều thông tin làm loãng ý chính, và đây chính là cơ hội lí tưởng để mình diễn giải thì ý của mình bẳng cách sắp xếp lại ý tưởng và thông tin một cách logic hơn.<br />
<br />
Thứ năm là để ý đến thái độ của tác giả đến đề tài. Đôi khi tác giả để lộ thái độ và cảm tính với đề tài (qua những từ như certain, uncertain, critical, striking, remarkable, wonderful, v.v…) và viết lại theo hình thức trung hòa hơn. Trong khoa học văn chương cần phải … lạnh lùng, tránh từ ngữ cảm tính.<br />
<br />
Quay lại câu văn gốc trên,<br />
<br />
The rise of industry, the growth of cities, and the expansion of the population were the three great developments of late nineteenth century American history. As new, larger, steam-powered factories became a feature of the American landscape in the East, they transformed farm hands into industrial laborers, and provided jobs for a rising tide of immigrants. With industry came urbanization the growth of large cities (like Fall River, Massachusetts, where the Bordens lived) which became the centers of production as well as of commerce and trade.<br />
<br />
nếu tác giả viết:<br />
<br />
Fall River, where the Borden family lived, was typical of northeastern industrial cities of the nineteenth century. Steam-powered production had shifted labor from agriculture to manufacturing, and as immigrants arrived in the US, they found work in these new factories. As a result, populations grew, and large urban areas arose. Fall River was one of these manufacturing and commercial centers (Williams 1).<br />
<br />
thì sẽ không xem là đạo văn mà là diễn tả lại ý chính của tác giả gốc. Đây là một cách diễn giải hợp lí, chấp nhận được, bởi vì tác giả giữ thông tin gốc qua cách dùng chữ, và cho biết nguồn gốc của ý tưởng.<br />
<br />
Như tôi nói ở trên, diễn giải một đoạn văn ngoài kĩ năng văn phạm, cú pháp, còn đòi hỏi một vốn ngữ vựng dồi dào. Ngữ vựng cho phép chúng ta dùng từ khác với từ gốc. Một số từ có thể thay thế mà có thể không làm thay đổi ý nghĩa gốc như sau:<br />
<br />
Từ chỉ không gian: above, below, here, there, v.v...<br />
<br />
Từ chỉ thời gian: after, before, currently, at present, during, earlier, later, v.v...<br />
<br />
Từ chỉ ví dụ: for example, for instance, v.v...<br />
<br />
Từ chỉ thêm nữa: additionally, in addition, also, moreover, furthermore, equally important, v.v...<br />
<br />
Từ chỉ tương đương: also, likewise, in the same way, similarly, v.v...<br />
<br />
Từ chỉ ngoại lệ: but, yet, however, nonetheless, on the other hand, on the contrary, v.v...<br />
<br />
Từ chỉ loạt: first, second, third, next, then, v.v...<br />
<br />
Từ nhấn mạnh: indeed, in fact, of course, v.v...<br />
<br />
Từ chỉ nguyên nhân và hệ quả: accordingly, consequently, as a result, as a consequence, therefore, thus, v.v...<br />
<br />
Từ kết luận: finally, in conclusion, in summary, on the whole, in the end, v.v...<br />
<br />
Đạo văn trong khoa học được nhắc đến rất nhiều lần, và một phần không nhỏ có liên quan đến sinh viên mà tiếng Anh không phải là tiếng mẹ đẻ. Đã có nhiều trường hợp luận án bị thu hồi vì vấn đề đạo văn. Khi người ta làm nghiên cứu ở sinh viên Mã Lai đang học tại Úc thì phát hiện rằng họ không cố ý đạo văn, nhưng chỉ vì họ không phân biệt được khác biệt giữa đạo văn, diễn giải, và tóm lược. Tôi hi vọng bài này sẽ giúp một phần cho “phe ta” phân biệt được 3 hình thức trên và tránh phạm phải lỗi lầm đáng tiếc.<br />
<br />
Viết bài báo khoa học không đơn giản như nhiều người tưởng. Không biết các ngành khác thì sao, nhưng trong lĩnh vực y khoa thì viết một bài báo khoa học 10 trang thường kéo dài khoảng 3 tháng. Nói như vậy để các bạn mới vào “nghề” không nên đánh giá thấp quá trình và kĩ năng viết một bài báo khoa học.<br />
<br />
NVT<br />
<br />
TB: M. Roig có một bài rất đầy đủ về đạo văn ở đây:<br />
<a href="http://facpub.stjohns.edu/~roigm/plagiarism/Index.html" target="_blank">http://facpub.stjohns.edu/~roigm/plagiarism/Index.html</a></div>
<br />
Chi tiết các bài khác, xem tại đây: <a href="http://forum.vatlieu.us/showthread.php?tid=552&amp;pid=1077#pid1077" target="_blank">http://forum.vatlieu.us/showthread.php?t...77#pid1077</a>]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[What browser do you use?]]></title>
			<link>http://forum.vatlieu.us/showthread.php?tid=1470</link>
			<pubDate>Tue, 16 Feb 2010 23:55:07 -0500</pubDate>
			<guid isPermaLink="false">http://forum.vatlieu.us/showthread.php?tid=1470</guid>
			<description><![CDATA[Hello everyone,<br />
<br />
I have the list of some browsers. which one do you use of them ? Here is the list of browsers. Just look at this :<br />
<br />
1) Internet Explorer ,<br />
2) Opera ,<br />
3) Google Chrome,<br />
4) Mozilla Firefox ,<br />
5) Safari ,<br />
6) Netscape Navigator,<br />
7) SeaMonkey,<br />
<br />
I had Internet Explorer but now I use Mozilla Firefox mostly else I use Netscape navigator and Opera ... Which is the best choice for you ?]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[Hello everyone,<br />
<br />
I have the list of some browsers. which one do you use of them ? Here is the list of browsers. Just look at this :<br />
<br />
1) Internet Explorer ,<br />
2) Opera ,<br />
3) Google Chrome,<br />
4) Mozilla Firefox ,<br />
5) Safari ,<br />
6) Netscape Navigator,<br />
7) SeaMonkey,<br />
<br />
I had Internet Explorer but now I use Mozilla Firefox mostly else I use Netscape navigator and Opera ... Which is the best choice for you ?]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Tai nghe Bluetooth cho netbook/labtop/notebook...]]></title>
			<link>http://forum.vatlieu.us/showthread.php?tid=1468</link>
			<pubDate>Sun, 14 Feb 2010 12:04:57 -0500</pubDate>
			<guid isPermaLink="false">http://forum.vatlieu.us/showthread.php?tid=1468</guid>
			<description><![CDATA[<span style="font-weight: bold;"><div style="text-align: center;">Kỹ thuật kết nối laptop</div></span><br />
<span style="font-weight: bold;">1. Yêu cầu :</span><br />
Laptop phải tích hợp sẵn Bluetooth<br />
Tai nghe Bluetooth có hỗ trợ A2DP<br />
<span style="font-weight: bold;">2. Cài đặt</span><br />
a, Khởi động Bluetooth trên Laptop<br />
b, Khởi động nguồn cho tai nghe Bluetooth<br />
c, Thực hiện "dò thiết bị" Bluetooth<br />
d, Chọn "kết nối"<br />
e, Nhập Password "0000" với các loại máy thông thường, hoặc "8888" với tai nghe Bluetooth Itech R35 - Next<br />
<span style="font-weight: bold;">3. Chú ý : Đối với máy không tích hợp Bluetooth</span>, bạn có thể down software Bluetooth hoặc gắn thêm cục USB Bluetooth vào để kết nối. Mặc dù vẫn kết nối, nghe nhạc được từ Laptop nhưng thời gian kết nối sẽ bị hạn chế (chỉ kết nối trong thời gian không quá 5 phút ) sau đó thiết bị sẽ tự động ngừng kết nối.<br />
<span style="font-style: italic;"><span style="font-weight: bold;">Vậy nên:</span> Chỉ có những Laptop tích hợp sẵn Bluetooth mới có thể kết nối với tai nghe Bluetooth được</span><br />
<br />
<div style="text-align: right;"><span style="color: #800080;">Nguồn:shoptainghe.com</span></div>]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<span style="font-weight: bold;"><div style="text-align: center;">Kỹ thuật kết nối laptop</div></span><br />
<span style="font-weight: bold;">1. Yêu cầu :</span><br />
Laptop phải tích hợp sẵn Bluetooth<br />
Tai nghe Bluetooth có hỗ trợ A2DP<br />
<span style="font-weight: bold;">2. Cài đặt</span><br />
a, Khởi động Bluetooth trên Laptop<br />
b, Khởi động nguồn cho tai nghe Bluetooth<br />
c, Thực hiện "dò thiết bị" Bluetooth<br />
d, Chọn "kết nối"<br />
e, Nhập Password "0000" với các loại máy thông thường, hoặc "8888" với tai nghe Bluetooth Itech R35 - Next<br />
<span style="font-weight: bold;">3. Chú ý : Đối với máy không tích hợp Bluetooth</span>, bạn có thể down software Bluetooth hoặc gắn thêm cục USB Bluetooth vào để kết nối. Mặc dù vẫn kết nối, nghe nhạc được từ Laptop nhưng thời gian kết nối sẽ bị hạn chế (chỉ kết nối trong thời gian không quá 5 phút ) sau đó thiết bị sẽ tự động ngừng kết nối.<br />
<span style="font-style: italic;"><span style="font-weight: bold;">Vậy nên:</span> Chỉ có những Laptop tích hợp sẵn Bluetooth mới có thể kết nối với tai nghe Bluetooth được</span><br />
<br />
<div style="text-align: right;"><span style="color: #800080;">Nguồn:shoptainghe.com</span></div>]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Save file ảnh từ docbao.com.vn]]></title>
			<link>http://forum.vatlieu.us/showthread.php?tid=1467</link>
			<pubDate>Sun, 14 Feb 2010 06:24:55 -0500</pubDate>
			<guid isPermaLink="false">http://forum.vatlieu.us/showthread.php?tid=1467</guid>
			<description><![CDATA[Hiện nay trang đọc báo <a href="http://docbao.com.vn" target="_blank">http://docbao.com.vn</a> có nhiều nội dung rất hấp dẫn, thú vị... Đôi khi bạn cần tải ảnh để lưu trữ hoặc để tham khảo sau này. Giải pháp sau đây sẽ giúp chúng ta làm được điều đó với FF.<br />
Chạy FF, sau đó chọn <span style="font-weight: bold;">Tools/Options...</span> sau đó chọn button <span style="font-weight: bold;">Advanced...</span>, và chọn như ảnh sau đây:<br />
<img src="http://img46.imageshack.us/img46/5063/javadocbaocomvn.png" border="0" alt="[Image: javadocbaocomvn.png&#93;" /><br />
<br />
Từ đây, chúng ta có thể bấm chuột phải lên hình vô tư:<br />
<img src="http://img684.imageshack.us/img684/9041/javadocbaocomvn2.jpg" border="0" alt="[Image: javadocbaocomvn2.jpg&#93;" /><br />
<br />
Cách này iem tham khảo từ xxx.tathy.com.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[Hiện nay trang đọc báo <a href="http://docbao.com.vn" target="_blank">http://docbao.com.vn</a> có nhiều nội dung rất hấp dẫn, thú vị... Đôi khi bạn cần tải ảnh để lưu trữ hoặc để tham khảo sau này. Giải pháp sau đây sẽ giúp chúng ta làm được điều đó với FF.<br />
Chạy FF, sau đó chọn <span style="font-weight: bold;">Tools/Options...</span> sau đó chọn button <span style="font-weight: bold;">Advanced...</span>, và chọn như ảnh sau đây:<br />
<img src="http://img46.imageshack.us/img46/5063/javadocbaocomvn.png" border="0" alt="[Image: javadocbaocomvn.png]" /><br />
<br />
Từ đây, chúng ta có thể bấm chuột phải lên hình vô tư:<br />
<img src="http://img684.imageshack.us/img684/9041/javadocbaocomvn2.jpg" border="0" alt="[Image: javadocbaocomvn2.jpg]" /><br />
<br />
Cách này iem tham khảo từ xxx.tathy.com.]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Five reasons to believe computers are female]]></title>
			<link>http://forum.vatlieu.us/showthread.php?tid=1466</link>
			<pubDate>Sat, 13 Feb 2010 02:09:29 -0500</pubDate>
			<guid isPermaLink="false">http://forum.vatlieu.us/showthread.php?tid=1466</guid>
			<description><![CDATA[Five reasons to believe computers are female<br />
1. No one but the Creator understands their internal logic.<br />
<br />
2. The native language they use to communicate with other computers is<br />
incomprehensible to everyone else.<br />
<br />
3. The message "Bad command or file name" is about as informative as, "If<br />
you don't know why I'm mad at you, then I'm certainly not going to tell<br />
you".<br />
<br />
4. Even your smallest mistakes are stored in long-term memory for later<br />
retrieval.<br />
<br />
5. As soon as you make a commitment to one, you find yourself spending half<br />
your paycheck on accessories for it.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[Five reasons to believe computers are female<br />
1. No one but the Creator understands their internal logic.<br />
<br />
2. The native language they use to communicate with other computers is<br />
incomprehensible to everyone else.<br />
<br />
3. The message "Bad command or file name" is about as informative as, "If<br />
you don't know why I'm mad at you, then I'm certainly not going to tell<br />
you".<br />
<br />
4. Even your smallest mistakes are stored in long-term memory for later<br />
retrieval.<br />
<br />
5. As soon as you make a commitment to one, you find yourself spending half<br />
your paycheck on accessories for it.]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[BẠN CÓ MUỐN DU HỌC - ĐỊNH CƯ TẠI ÚC KHÔNG?]]></title>
			<link>http://forum.vatlieu.us/showthread.php?tid=1465</link>
			<pubDate>Fri, 12 Feb 2010 03:43:14 -0500</pubDate>
			<guid isPermaLink="false">http://forum.vatlieu.us/showthread.php?tid=1465</guid>
			<description><![CDATA[<img src="http://i617.photobucket.com/albums/tt257/aloxinh_86/CELI_VIETNAM.jpg" border="0" alt="[Image: CELI_VIETNAM.jpg&#93;" /><br />
<br />
Không cần tay nghề, không cần Anh Văn. Tuy nhiên, nếu bạn có Anh Văn IELTS 4.5 điểm thì sẽ là lợi điểm cho bạn; tuổi từ 17 đến 35, nam hoặc nữ; học xong lớp 11; Ngay sau khi đến Úc, bạn có thể làm việc bán thời gian (20 giờ/tuần); Nếu bạn có vợ (hoặc chồng), họ có thể đi theo cùng bạn; Ngay sau khi đến Úc, vợ (hoặc chồng) có thể làm việc; Nếu 2 vơ chồng cùng đi thì sẽ dư tiền sau khi trả tất cả học phí, ăn ở, phí sinh hoạt, … Nếu bạn có con, bạn có thể mang con theo (Nếu điều kiện tài chánh cho phép); có visa sau 10 tuần kể từ ngày nộp đủ hồ sơ. <span style="font-weight: bold;">ĐỂ LÀM GÌ?</span> Để có một tương lai tốt đẹp hơn, để kiếm được tiền nhiều hơn, để trở thành Thường Trú Vĩnh Viễn của Úc sau 2 năm khi đến Úc, để bảo lãnh, để bảo lãnh nhân thân sau khi có PR, để đi Mỹ, Canada, Anh quốc hoặc Châu Âu mà không cần Visa nếu đi dưới tháng. <span style="font-weight: bold;">VẬY BẠN CÒN CHẦN CHỪ GÌ NỮA?</span> Để có thông tin chi tiết và cụ thể, bạn hãy liên hệ trực tiếp: Roland Nguyen, Giám đốc CELI -email: roland@celi-vietnam.com- Mobile: 0903.034.164.website: <a href="http://www.duhoc-dinhcutaiuc.com" target="_blank">http://www.duhoc-dinhcutaiuc.com</a>]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<img src="http://i617.photobucket.com/albums/tt257/aloxinh_86/CELI_VIETNAM.jpg" border="0" alt="[Image: CELI_VIETNAM.jpg]" /><br />
<br />
Không cần tay nghề, không cần Anh Văn. Tuy nhiên, nếu bạn có Anh Văn IELTS 4.5 điểm thì sẽ là lợi điểm cho bạn; tuổi từ 17 đến 35, nam hoặc nữ; học xong lớp 11; Ngay sau khi đến Úc, bạn có thể làm việc bán thời gian (20 giờ/tuần); Nếu bạn có vợ (hoặc chồng), họ có thể đi theo cùng bạn; Ngay sau khi đến Úc, vợ (hoặc chồng) có thể làm việc; Nếu 2 vơ chồng cùng đi thì sẽ dư tiền sau khi trả tất cả học phí, ăn ở, phí sinh hoạt, … Nếu bạn có con, bạn có thể mang con theo (Nếu điều kiện tài chánh cho phép); có visa sau 10 tuần kể từ ngày nộp đủ hồ sơ. <span style="font-weight: bold;">ĐỂ LÀM GÌ?</span> Để có một tương lai tốt đẹp hơn, để kiếm được tiền nhiều hơn, để trở thành Thường Trú Vĩnh Viễn của Úc sau 2 năm khi đến Úc, để bảo lãnh, để bảo lãnh nhân thân sau khi có PR, để đi Mỹ, Canada, Anh quốc hoặc Châu Âu mà không cần Visa nếu đi dưới tháng. <span style="font-weight: bold;">VẬY BẠN CÒN CHẦN CHỪ GÌ NỮA?</span> Để có thông tin chi tiết và cụ thể, bạn hãy liên hệ trực tiếp: Roland Nguyen, Giám đốc CELI -email: roland@celi-vietnam.com- Mobile: 0903.034.164.website: <a href="http://www.duhoc-dinhcutaiuc.com" target="_blank">http://www.duhoc-dinhcutaiuc.com</a>]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Nếm rượu phong cách “pro”]]></title>
			<link>http://forum.vatlieu.us/showthread.php?tid=1464</link>
			<pubDate>Thu, 11 Feb 2010 11:55:56 -0500</pubDate>
			<guid isPermaLink="false">http://forum.vatlieu.us/showthread.php?tid=1464</guid>
			<description><![CDATA[Hãy làm theo các bước sau và bạn sẽ nhanh chóng được nhìn nhận như một chuyên gia sành sỏi về rượu vang:<br />
<br />
<span style="font-weight: bold;">- Ngắm nghía</span>: Đầu tiên, hãy kiểm tra rượu vang để đảm bảo không có “phốt” rõ rệt nào. Chất rượu phải sóng sánh nhưng không vẩn đục hay sủi bọt cũng như không có cặn lơ lửng.<br />
<br />
Sau đó, hãy kiểm tra màu sắc có đúng loại rượu và độ tuổi hay không. Một chai vang trắng mới ra lò (từ 1 đến 3 năm tuổi) thường có màu vàng nhạt với một chút phớt xanh xung quanh. Vang trắng càng để lâu càng chuyển sang màu vàng đậm hơn. Khi đạt độ tuổi “lão”, nó sẽ có màu nâu. Một chai vang đỏ thường có màu đỏ thẫm với sắc tía. Cùng thời gian, nó chuyển dần sang màu đỏ gạch. Khi thực sự để lâu năm, nó cũng ngả sang màu nâu. <br />
<br />
<span style="font-weight: bold;">- Ngửi</span>: Cách đơn giản nhất để ngửi một chai rượu là nâng ly lên, lắc nhẹ để hương thơm toát ra, đặt mũi phía trên miệng cốc và hít một hơi ngắn. Cố nhắm mắt lại và tự hỏi: “Rượu có thanh khiết không nhỉ?”. Hãy chắc chắn rằng rượu không có mùi như vải bao bố ẩm (bị ám nút bần), mùi chua (bị bay hơi), mùi trứng thối hay lưu huỳnh (có quá nhiều sulphur dioxide khi đóng chai).<br />
<br />
Tiếp đến, hãy tự hỏi mình xem liệu mùi vị có đặc trưng cho loại rượu đó không. Để trả lời được câu hỏi này cần đôi chút kiến thức nhưng nhìn chung vẫn có một hoặc hai dấu hiệu cơ bản. Lấy ví dụ, loại rượu làm từ nho chardonnay thường có mùi dưa tây hoặc đào. Nếu có mùi như salad hoa quả thì nhiều khả năng không có phẩm chất của loại nho thượng hạng chardonay.<br />
<br />
<span style="font-weight: bold;">- Nếm</span>: Cuối cùng, bạn có thể uống được rồi. Sẽ có hai điều xảy ra. Đầu tiên, bạn sẽ cảm nhận được vị ngọt, chua, tanin và cả “phần xác” của rượu trên lưỡi. Phần còn lại của cảm giác nếm chính là hương thơm ào ạt qua đường mũi. Hãy nhắp một chút và giữ nó trong miệng trong vài giây. Tiếp đó, nuốt hoặc nhổ ra (nên nhớ chỉ nhổ ra khi đang tham gia một cuộc nếm rượu chứ không phải trong trường hợp đang ở nhà hàng).<br />
Những người làm rượu nho còn có một “chiêu” giúp họ khám phá những sắc thái của loại rượu đang thưởng thức. Tuy nhiên, cần tập luyện chút ít nếu muốn sử dụng phương pháp này. Ngậm rượu trong miệng, ngửa nhẹ đầu ra sau, há miệng nhẹ nhàng đồng thời hít không khí vào để rượu dậy mùi. Nó sẽ tạo nên một âm thanh róc rách.<br />
<br />
Hãy cân đo đong đếm hương vị hợp thành. Đặc biệt chú ý khả năng lưu giữ hương vị, xem bạn có thể cảm nhận được bao lâu sau khi nuốt xuống họng. Hương vị kéo dài càng lâu, loại rượu càng ngon. Giờ thì bạn chỉ cần gật gù, thích thú nữa là giống hệt một “pro” về rượu vang rồi!<br />
<br />
<span style="font-style: italic;"><span style="font-weight: bold;">TRÌNH TỰ THƯỞNG THỨC RƯỢU Ở NHÀ HÀNG</span></span><br />
Hãy nắm chắc những bước phục vụ rượu vang của nhà hàng, nhất là khi bạn muốn tỏ ra là một người sành sỏi trước mặt ‘đối tác”.<br />
<br />
<span style="font-weight: bold;">- Giới thiệu chai:</span> Đầu tiên, người phục vụ sẽ cho bạn xem chai rượu chưa mở để bạn kiểm tra xem đã đúng loại gọi hay chưa. Đây là bước khá quan trọng vì rất có thể, người phục vụ lấy nhầm rượu hoặc nhà hàng đã hết loại đó mà mang loại khác thay thế. Hãy nhìn kỹ nhãn hiệu cũng như năm sản xuất. Nếu chấp nhận được, chỉ cần gật nhẹ đầu!<br />
<br />
<span style="font-weight: bold;">- Giới thiệu nút:</span> Giờ là lúc người phục vụ mở chai và đưa nút bần cho bạn. Làm ơn đừng …ngửi nó nếu không muốn lộ ra bạn chẳng biết gi về rượu vang cả! Đơn giản chỉ cần nhìn nút bần, đảm bảo rằng nó không bị vứt hay khô nứt. Nếu nút bần bị khô nứt, nó sẽ quắt queo lại và không khí lọt vào làm hỏng rượu. Không khí bên trong chai cũng có thể làm nút bần có những vệt trắng nhưng đây chưa phải là dấu hiệu rằng chai rượu đã hỏng và nó vẫn hoàn toàn ổn.<br />
<br />
<span style="font-weight: bold;">- Thử mùi:</span> Kế tiếp, người phục vụ sẽ rót một chút vào ly của bạn và lùi lại phía sau. Bạn nâng ly lên, tốt nhất là cầm tay vào chân ly và nhấc lên để thân nhiệt bàn tay không làm ấm rượu, và lắc vào quanh giúp ngửi dễ dàng hơn. Sau đó bạn đặt mũi phía trên cốc, hít một hơi. Hãy kiểm tra mùi thơm, cố cảm nhận hương vị đặc biệt của nhãn hiệu bạn gọi (xem lại phần Nếm rượu phong cách “pro” ở trên). Nếu không chắc, hãy hỏi người phục vụ.<br />
<br />
<span style="font-weight: bold;">- Thử vị:</span> Nhấp một ngụm nhỏ, cử động hàm tới lui để rượu lan tỏa khắp các nụ vị giác trên lưỡi. nếu bạn hài lòng với chất lượng của rượu, chỉ cần đơn giản quay lại người phục vụ và gật đầu biểu thị “nó ổn đấy”. Giờ thì người phục vụ sẽ chắt rượu ra bình (nếu cần) và rót đầy ly của bạn.<br />
<br />
<span style="font-weight: bold;">- Đổi rượu:</span> Các nhà hàng “chuẩn” sẽ đồng ý đổi rượu cho bạn, đặc biệt trong trường hợp bạn cảm thấy chất lượng loại vừa thử đáng ngờ. Nếu bạn lần đầu tiên nếm thử loại rượu đó và không chắc về nó, hãy hỏi ý kiến người phục vụ trước khi đề nghị đổi rượu.<br />
<br />
<span style="font-weight: bold;">Sưu tầm.</span><hr />
<span style="font-size: x-large;"><span style="font-weight: bold;">Cách rót rượu vang</span></span><br />
<ol type="1">
<li>Cầm chai rượu sao cho nhãn của chai hướng lên trên và có thể nhìn thấy được.</li>
<li>Giữ đúng khoảng cách giữa chai và miệng ly rượu</li>
<li>Mời chủ tiệc một chút để nếm thử.</li>
<li>Phục vụ cho phụ nữ trước, sau đó đến nam giới và sau cùng là chủ bữa tiệc.</li>
<li>Rót 2/3 ly rượu, quay cổ chai để tránh nhỏ giọt. Dùng khăn của người phục vụ, gấp và hứng những giọt rượu chảy ra.</li>
<li>Đặt chai vào giỏ rượu hoặc thùng rượu nếu thích hợp.</li>
<li>Rót tiếp rượu vào ly.<br />
</li></ol>
<hr />
<span style="font-size: x-large;"><span style="font-weight: bold;">Cách thưởng thức rượu vang</span></span><br />
<span style="color: #FF0000;">S thứ nhất là <span style="font-weight: bold;">SEE </span>(nhìn ngắm)</span>: Rượu được rót ra tối đa không quá ½ ly. Rượu phải được rót vào trong một cốc thủy tinh mỏng trong veo để có thể quan sát màu sắc, độ đặc cũng như độ kết dính của rượu. Với những loại vang đỏ cao cấp để lâu năm, chất lượng vẫn hoàn hảo (loại này rất hiếm và rất đắt) thì thường có màu đỏ nâu. Những loại thông dụng và ít năm hơn thường có màu đỏ ruby.<br />
<span style="color: #8B4513;">S thứ hai là <span style="font-weight: bold;">SWIRL </span>(lắc nhẹ)</span>: Hãy lắc nhẹ cho rượu sóng sánh lên thành ly để quan sát kỹ hơn độ kết dính và giúp ta cảm nhận đầy đủ nhất bước tiếp theo.<br />
<span style="color: #006400;">S thứ ba là <span style="font-weight: bold;">SMELL </span>(mùi vị)</span>: Sau khi rượu vang được lắc nhẹ sánh lên thành ly và từ từ trôi xuống, bạn hãy ghé mũi vào miệng ly để ngửi và cảm nhận hết những hương vị đặc trưng và hoàn toàn thiên nhiên chỉ có ở rượu vang. Có thể bạn sẽ ngửi thấy mùi khói từ thùng ủ rượu làm từ gỗ sồi được hun khói; mùi da đã thuộc, mùi khói thuốc lá, mùi cam, táo hay một loại quả nào đó.<br />
Đó là do rượu vang được làm 100% từ nho, được lên men tự nhiên của chính nó và phần lớn được làm thủ công. Điều đó cũng khiến việc thưởng thức rượu vang thú vị hơn vì những hương vị thân thuộc nhất của tự nhiên lắng đọng trong rượu.<br />
<span style="color: #4682B4;">S thứ tư là <span style="font-weight: bold;">SNAP </span>(nếm):</span> Sau khi nhận biết hương vị, bạn bắt đầu cảm nhận rượu vang bằng vị giác. Hãy để một chút không khí tràn vào miệng cùng với rượu vang, bởi như thế vị rượu sẽ đậm đà hơn rất nhiều. Nhớ là trong bước này, bạn chỉ ngậm một chút rượu trong vòm miệng thôi nhé. Đôi khi, trong những tiệc nếm rượu, bạn sẽ bắt gặp hình ảnh một người sành rượu mắt lim dim, ngửa cổ ra phía sau. Đừng ngạc nhiên bởi đó là một cách để cảm nhận hương vị rượu vang tốt nhất, hãy để cho những giọt rượu từ từ lan tỏa khắp lưỡi trước khi trôi vào cuống họng.<br />
<span style="color: #0000CD;">S thứ năm là <span style="font-weight: bold;">SAVOUR </span>(nhấm nháp)</span>: Từ từ mở mắt trong tư thế hơi ngả đầu, bạn có thể cảm nhận, đánh giá được hương vị của rượu vang còn đọng lại sau khi uống. Có thể là vị chát nhẹ, chát nồng hơn hay cũng có thể là vị ngọt khó tả, thoảng nhẹ không thể nắm bắt. Và cũng chỉ trong bước này, bạn mới thấy hương vị mật ong hoặc vani trong một số loại rượu.<br />
<span style="font-style: italic;"><span style="color: #800080;">Còn ngần ngại gì mà bạn không thử tuân thủ 5 S để tận hưởng trọn vẹn thứ rượu tinh tế, thanh khiết và tự nhiên nhất này!</span></span><hr />
<span style="font-size: x-large;"><span style="color: #FF0000;"><span style="font-weight: bold;">Cách phân biệt vang thật/giả</span></span></span><br />
Hiện nay, trên thị trường Viêt Nam có rất nhiều rượu vang mang nhãn hiệu Bordeaux. Để có thể phân biệt được đâu là rượu thật, đâu là rượu giả, ta có thể chú ý tới một số đặc điểm sau:<br />
<br />
<span style="font-weight: bold;">- Nhãn chai</span>: vì người Việt Nam cho rằng đã là Bordeaux thì càng lâu năm càng quý nên các nhà làm rượu giả đã lợi dụng yếu tố này để in các nhãn chai Bordeaux với năm đóng chai từ 1993 tới 1997. Điều cần phải biết, đây là những chai Bordeaux hết sức bình thường. Ở Pháp, thời hạn sử dụng đối với Bordeaux trắng loại này từ 2-3 năm, rượu đỏ từ 4-5 năm là tối đa trong những điều kiện bảo quản tối ưu (hầm rượu ít ánh sáng, nhiệt độ ổn định thường xuyên từ 13-15 độ C, độ ẩm không khí từ 65-75 độ). Do đó, rượu vang Bordeaux không tên tuổi thuộc những năm sản xuất này, nếu không phải là giả thì cũng đã hỏng, trở thành “dấm chua”.<br />
<br />
<span style="font-weight: bold;">- Các nhà làm rượu giả do kiến thức có hạn nên nhiều khi nhầm lẫn giữa các giống nho làm rượu</span>. Lỗi thường gặp là trên cả rượu vang đỏ và vang trắng đều ghi các giống nho làm rượu giống nhau: Cabernet Sauvignon, Cabernet Franc và Merlot. Trong thực tế, đây là các giống nho dùng làm rượu vang Bordeaux đỏ, còn rượu Bordeaux trắng làm từ các dòng nho Sauvignon Blanc và Sémillon. <br />
<br />
<span style="font-weight: bold;">- Một lỗi thường gặp khác là trên một số nhãn chai Bordeaux</span> giả có đề chữ “mise en bouteille par AOC 1993”, có nghĩa là đóng chai bởi AOC năm 1993. Thực ra AOC là chữ viết tắt tiếng Pháp “Appellation d’Origine Controlée” có nghĩa là sản phẩm có nguồn gốc xuất xứ được xác định, thay vì phải viết “mise en bouteille au Chateau ou en Domaine” (có nghĩa là đóng chai tại lâu đài hay lãnh địa – nơi sản xuất rượu vang). Bản thân chữ Bordeaux đã có nghĩa là AOC rồi. <br />
<br />
- Kiểu dáng chai: tất cả các chai Bordeaux đỏ và trắng khô đều có màu xanh lá cây phơn phớt ( để hạn chế ánh sáng ) và đáy chai lõm. Các chai rượu ngọt (Sauternes, Loupiac, Sainte-Croix-du-Mont...) có màu trắng và đáy chai lõm.<br />
<br />
<span style="font-weight: bold;">- Mầu sắc rượu:</span> khi đưa chai ra ánh sáng, đối với rượu vang trắng, nếu là những năm 1993, ít nhất rượu phải có màu vàng sẫm hoặc màu hổ phách. Đối với rượu vang đỏ, rượu sẽ có màu hồng ngọc hoặc màu ngói tươi. Cũng có thể thấy trong một số chai rượu vang đỏ một chút cặn ở đáy chai (nếu rượu thực sự được giữ lâu năm). <br />
<br />
<span style="font-weight: bold;">- Nút thiếc bảo vệ:</span> nếu là vang Bordeaux thật, bạn có thể xoay nút thiếc dễ dàng vì nút thiếc được đóng bằng máy, trong khi ở các chai vang giả nút thiếc được đóng bằng tay, nhiều khi lại dán thêm cồn nên khó xoay chuyển xung quanh cổ chai.<br />
<br />
- Cũng như nút thiếc bảo vệ,<span style="font-weight: bold;"> nhãn chai vang thật được dán bằng máy và bằng keo dán công nghiệp nên nhãn mịn màng, tương đối dễ bóc nếu ngâm vỏ chai vào nước nóng</span>, trong khi nhãn các chai vang giả được dán bằng keo dán chất lượng tồi nên nhãn chai không được mịn, lại được dán rất chắc, khi bạn lấy nhãn chai khỏi vỏ chai rất hay bị rách.<hr />
<span style="font-size: x-large;"><span style="font-weight: bold;">Bí quyết giữ Rượu Nho Rượu Vang sau khi mở nắp</span></span><br />
<br />
<span style="color: #FF0000;">Một khi nút bần bị kéo ra khỏi chai có nghĩa là rượu đã tiếp xúc với không khí, nếu không biết cách bảo quản thì rượu rất dễ bị hỏng. Thế nhưng bảo quản như thế nào và bảo quản trong bao lâu để rượu đã khui vẫn giữ được mùi vị thì không phải ai cũng biết.</span><br />
<br />
<span style="font-weight: bold;">Dưới đây là những cách giúp bảo quản rượu đã khui được tươi ngon.<br />
Một khi nút bần bị kéo ra khỏi chai có nghĩa là rượu đã tiếp xúc với không khí, nếu không biết cách bảo quản thì rượu rất dễ bị hỏng. Thế nhưng bảo quản như thế nào và bảo quản trong bao lâu để rượu đã khui vẫn giữ được mùi vị thì không phải ai cũng biết. Dưới đây là những cách giúp bảo quản rượu đã khui được tươi ngon.</span><br />
<span style="color: #9400D3;"><span style="font-weight: bold;">Bảo quản bằng tủ lạnh</span></span><br />
Cũng như các thực phẩm khác, rượu có thể bảo quản bằng cách để trong tủ lạnh, trong điều kiện nhiệt độ thấp những phản ứng hoá học diễn ra chậm hơn làm cho quá trình ôxy hoá cũng chậm theo. <br />
-Giảm nhiệt độ rượu cũng là cách ngăn chặn tác động của những vi khuẩn lên men làm chua rượu. Chính vì thế nên để rượu đã khui vào trong tủ lạnh là một trong những bước quan trọng để giữ rượu được ngon cho những lần uống tiếp theo.<br />
Ngoài ra còn có nhiều cách khác bảo quản rượu bằng cách làm giảm tác động của oxy một cách trực tiếp.<br />
<br />
Rót bớt rượu sang chai khác nhỏ hơn rồi đem bảo quản trong tủ lạnh<br />
Theo kinh nghiệm của những người uống rượu vang thường xuyên thì một lần uống vừa miệng và không hại cho gan chỉ hết ½ chai 750ml là nhiều nhất. Cho nên trước khi uống nên chắt một nửa chai rượu 750ml sang chai 375ml đóng nút bần lại rồi cho chai nhỏ vào tủ lạnh trước khi uống. Bởi vì thực tế cho thấy làm như vậy lượng không khí giữa bề mặt rượu và nút bần rất nhỏ.<br />
<br />
<span style="color: #C71585;"><span style="font-weight: bold;">Hút chân không</span></span><br />
-Hút chân không cũng là một cách để ngăn không cho rượu tiếp xúc với oxy. Đặt nút bằng cao su được thiết kế đặc biệt vào cổ chai rồi dùng bơm để hút không khí ra.<br />
-Nếu so sánh giữa rượu được rót ra chai nhỏ bảo quản và rượu được bảo quản bằng cách hút chân không thì rượu bảo quản bằng cách hút chân không hương vị ít hơn, nhạt nhẽo và hả hơi. Có 2 lý do chính:<br />
T1: khi bơm khí ra sẽ tạo ra những bọt bong bóng nổi trên mặt rượu làm khí cacbonic phân huỷ do áp suất giảm. Sự thay đổi thành phần của rượu làm cho rượu nhạt nhẽo hơn và kém thú vị hơn.<br />
T2: Mùi vị của rượu bị bay hơi và làm mất đi hương vị của rượu.<br />
Bơm khí Nitơ<br />
-Bơm nhanh khí nitơ nén vào rượu để làm giảm quá trình oxy hoá. Nghe có vẻ như đây là giải pháp lý tưởng, vừa không làm bay hơi hương vị vừa giảm tối thiểu được sự tiếp xúc của rượu với oxy khi khí nitơ được bơm vào. Nhưng thật không may, khí nitơ có thể tác động làm hỏng rượu, đặc biệt là đối với rượu trưởng thành và mạnh.<br />
<span style="font-weight: bold;">-Đối với rượu vang - Champagne </span><br />
Những cách bảo quản rượu nói trên không phù hợp với rượu vang nổ. Bởi vì nếu rót bớt rượu sang chai nhỏ hơn để bảo quản sẽ làm mất hết ga. Lớp khí cacbonic của bong bóng đã bảo vệ rượu khỏi bị oxy hoá nên bảo quản rượu bằng cách bơm khí nitơ vào là không cần thiết.<br />
<br />
Cho nên đối với rượu vang nổ chỉ cần đóng nút bần và bảo quản trong tủ lạnh mà không sợ bị mất đi đặc tính riêng của rượu. Nên dùng nút hít để điều chỉnh áp suất bên trong chai khi mở ra.<br />
<br />
Làm như vậy giúp bảo quản ga rượu.<br />
-Nói chung, phần lớn các loại rượu chỉ nên để đến ngày hôm sau. Bởi vì, các phương pháp bảo quản rượu nêu trên chỉ là những cách trì hoãn thời gian rượu hỏng chứ không phải là cách ngăn ngừa rượu không bị hư hỏng.<br />
<br />
Mặc dù có nhiều cách bảo quản nhưng kinh nghiệm cho thấy trước khi dùng nên ước lượng lượng rượu uống bữa đó rồi rót số còn lại sang chai nhỏ hơn, đóng nút bần lại đưa vào tủ lạnh là cách bảo quản rượu tốt nhất.<br />
<br />
<span style="font-style: italic;"><span style="font-weight: bold;">Lưu ý</span>: trước khi dùng nên lấy rượu ra khỏi tủ lạnh trước vài tiếng..</span>]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[Hãy làm theo các bước sau và bạn sẽ nhanh chóng được nhìn nhận như một chuyên gia sành sỏi về rượu vang:<br />
<br />
<span style="font-weight: bold;">- Ngắm nghía</span>: Đầu tiên, hãy kiểm tra rượu vang để đảm bảo không có “phốt” rõ rệt nào. Chất rượu phải sóng sánh nhưng không vẩn đục hay sủi bọt cũng như không có cặn lơ lửng.<br />
<br />
Sau đó, hãy kiểm tra màu sắc có đúng loại rượu và độ tuổi hay không. Một chai vang trắng mới ra lò (từ 1 đến 3 năm tuổi) thường có màu vàng nhạt với một chút phớt xanh xung quanh. Vang trắng càng để lâu càng chuyển sang màu vàng đậm hơn. Khi đạt độ tuổi “lão”, nó sẽ có màu nâu. Một chai vang đỏ thường có màu đỏ thẫm với sắc tía. Cùng thời gian, nó chuyển dần sang màu đỏ gạch. Khi thực sự để lâu năm, nó cũng ngả sang màu nâu. <br />
<br />
<span style="font-weight: bold;">- Ngửi</span>: Cách đơn giản nhất để ngửi một chai rượu là nâng ly lên, lắc nhẹ để hương thơm toát ra, đặt mũi phía trên miệng cốc và hít một hơi ngắn. Cố nhắm mắt lại và tự hỏi: “Rượu có thanh khiết không nhỉ?”. Hãy chắc chắn rằng rượu không có mùi như vải bao bố ẩm (bị ám nút bần), mùi chua (bị bay hơi), mùi trứng thối hay lưu huỳnh (có quá nhiều sulphur dioxide khi đóng chai).<br />
<br />
Tiếp đến, hãy tự hỏi mình xem liệu mùi vị có đặc trưng cho loại rượu đó không. Để trả lời được câu hỏi này cần đôi chút kiến thức nhưng nhìn chung vẫn có một hoặc hai dấu hiệu cơ bản. Lấy ví dụ, loại rượu làm từ nho chardonnay thường có mùi dưa tây hoặc đào. Nếu có mùi như salad hoa quả thì nhiều khả năng không có phẩm chất của loại nho thượng hạng chardonay.<br />
<br />
<span style="font-weight: bold;">- Nếm</span>: Cuối cùng, bạn có thể uống được rồi. Sẽ có hai điều xảy ra. Đầu tiên, bạn sẽ cảm nhận được vị ngọt, chua, tanin và cả “phần xác” của rượu trên lưỡi. Phần còn lại của cảm giác nếm chính là hương thơm ào ạt qua đường mũi. Hãy nhắp một chút và giữ nó trong miệng trong vài giây. Tiếp đó, nuốt hoặc nhổ ra (nên nhớ chỉ nhổ ra khi đang tham gia một cuộc nếm rượu chứ không phải trong trường hợp đang ở nhà hàng).<br />
Những người làm rượu nho còn có một “chiêu” giúp họ khám phá những sắc thái của loại rượu đang thưởng thức. Tuy nhiên, cần tập luyện chút ít nếu muốn sử dụng phương pháp này. Ngậm rượu trong miệng, ngửa nhẹ đầu ra sau, há miệng nhẹ nhàng đồng thời hít không khí vào để rượu dậy mùi. Nó sẽ tạo nên một âm thanh róc rách.<br />
<br />
Hãy cân đo đong đếm hương vị hợp thành. Đặc biệt chú ý khả năng lưu giữ hương vị, xem bạn có thể cảm nhận được bao lâu sau khi nuốt xuống họng. Hương vị kéo dài càng lâu, loại rượu càng ngon. Giờ thì bạn chỉ cần gật gù, thích thú nữa là giống hệt một “pro” về rượu vang rồi!<br />
<br />
<span style="font-style: italic;"><span style="font-weight: bold;">TRÌNH TỰ THƯỞNG THỨC RƯỢU Ở NHÀ HÀNG</span></span><br />
Hãy nắm chắc những bước phục vụ rượu vang của nhà hàng, nhất là khi bạn muốn tỏ ra là một người sành sỏi trước mặt ‘đối tác”.<br />
<br />
<span style="font-weight: bold;">- Giới thiệu chai:</span> Đầu tiên, người phục vụ sẽ cho bạn xem chai rượu chưa mở để bạn kiểm tra xem đã đúng loại gọi hay chưa. Đây là bước khá quan trọng vì rất có thể, người phục vụ lấy nhầm rượu hoặc nhà hàng đã hết loại đó mà mang loại khác thay thế. Hãy nhìn kỹ nhãn hiệu cũng như năm sản xuất. Nếu chấp nhận được, chỉ cần gật nhẹ đầu!<br />
<br />
<span style="font-weight: bold;">- Giới thiệu nút:</span> Giờ là lúc người phục vụ mở chai và đưa nút bần cho bạn. Làm ơn đừng …ngửi nó nếu không muốn lộ ra bạn chẳng biết gi về rượu vang cả! Đơn giản chỉ cần nhìn nút bần, đảm bảo rằng nó không bị vứt hay khô nứt. Nếu nút bần bị khô nứt, nó sẽ quắt queo lại và không khí lọt vào làm hỏng rượu. Không khí bên trong chai cũng có thể làm nút bần có những vệt trắng nhưng đây chưa phải là dấu hiệu rằng chai rượu đã hỏng và nó vẫn hoàn toàn ổn.<br />
<br />
<span style="font-weight: bold;">- Thử mùi:</span> Kế tiếp, người phục vụ sẽ rót một chút vào ly của bạn và lùi lại phía sau. Bạn nâng ly lên, tốt nhất là cầm tay vào chân ly và nhấc lên để thân nhiệt bàn tay không làm ấm rượu, và lắc vào quanh giúp ngửi dễ dàng hơn. Sau đó bạn đặt mũi phía trên cốc, hít một hơi. Hãy kiểm tra mùi thơm, cố cảm nhận hương vị đặc biệt của nhãn hiệu bạn gọi (xem lại phần Nếm rượu phong cách “pro” ở trên). Nếu không chắc, hãy hỏi người phục vụ.<br />
<br />
<span style="font-weight: bold;">- Thử vị:</span> Nhấp một ngụm nhỏ, cử động hàm tới lui để rượu lan tỏa khắp các nụ vị giác trên lưỡi. nếu bạn hài lòng với chất lượng của rượu, chỉ cần đơn giản quay lại người phục vụ và gật đầu biểu thị “nó ổn đấy”. Giờ thì người phục vụ sẽ chắt rượu ra bình (nếu cần) và rót đầy ly của bạn.<br />
<br />
<span style="font-weight: bold;">- Đổi rượu:</span> Các nhà hàng “chuẩn” sẽ đồng ý đổi rượu cho bạn, đặc biệt trong trường hợp bạn cảm thấy chất lượng loại vừa thử đáng ngờ. Nếu bạn lần đầu tiên nếm thử loại rượu đó và không chắc về nó, hãy hỏi ý kiến người phục vụ trước khi đề nghị đổi rượu.<br />
<br />
<span style="font-weight: bold;">Sưu tầm.</span><hr />
<span style="font-size: x-large;"><span style="font-weight: bold;">Cách rót rượu vang</span></span><br />
<ol type="1">
<li>Cầm chai rượu sao cho nhãn của chai hướng lên trên và có thể nhìn thấy được.</li>
<li>Giữ đúng khoảng cách giữa chai và miệng ly rượu</li>
<li>Mời chủ tiệc một chút để nếm thử.</li>
<li>Phục vụ cho phụ nữ trước, sau đó đến nam giới và sau cùng là chủ bữa tiệc.</li>
<li>Rót 2/3 ly rượu, quay cổ chai để tránh nhỏ giọt. Dùng khăn của người phục vụ, gấp và hứng những giọt rượu chảy ra.</li>
<li>Đặt chai vào giỏ rượu hoặc thùng rượu nếu thích hợp.</li>
<li>Rót tiếp rượu vào ly.<br />
</li></ol>
<hr />
<span style="font-size: x-large;"><span style="font-weight: bold;">Cách thưởng thức rượu vang</span></span><br />
<span style="color: #FF0000;">S thứ nhất là <span style="font-weight: bold;">SEE </span>(nhìn ngắm)</span>: Rượu được rót ra tối đa không quá ½ ly. Rượu phải được rót vào trong một cốc thủy tinh mỏng trong veo để có thể quan sát màu sắc, độ đặc cũng như độ kết dính của rượu. Với những loại vang đỏ cao cấp để lâu năm, chất lượng vẫn hoàn hảo (loại này rất hiếm và rất đắt) thì thường có màu đỏ nâu. Những loại thông dụng và ít năm hơn thường có màu đỏ ruby.<br />
<span style="color: #8B4513;">S thứ hai là <span style="font-weight: bold;">SWIRL </span>(lắc nhẹ)</span>: Hãy lắc nhẹ cho rượu sóng sánh lên thành ly để quan sát kỹ hơn độ kết dính và giúp ta cảm nhận đầy đủ nhất bước tiếp theo.<br />
<span style="color: #006400;">S thứ ba là <span style="font-weight: bold;">SMELL </span>(mùi vị)</span>: Sau khi rượu vang được lắc nhẹ sánh lên thành ly và từ từ trôi xuống, bạn hãy ghé mũi vào miệng ly để ngửi và cảm nhận hết những hương vị đặc trưng và hoàn toàn thiên nhiên chỉ có ở rượu vang. Có thể bạn sẽ ngửi thấy mùi khói từ thùng ủ rượu làm từ gỗ sồi được hun khói; mùi da đã thuộc, mùi khói thuốc lá, mùi cam, táo hay một loại quả nào đó.<br />
Đó là do rượu vang được làm 100% từ nho, được lên men tự nhiên của chính nó và phần lớn được làm thủ công. Điều đó cũng khiến việc thưởng thức rượu vang thú vị hơn vì những hương vị thân thuộc nhất của tự nhiên lắng đọng trong rượu.<br />
<span style="color: #4682B4;">S thứ tư là <span style="font-weight: bold;">SNAP </span>(nếm):</span> Sau khi nhận biết hương vị, bạn bắt đầu cảm nhận rượu vang bằng vị giác. Hãy để một chút không khí tràn vào miệng cùng với rượu vang, bởi như thế vị rượu sẽ đậm đà hơn rất nhiều. Nhớ là trong bước này, bạn chỉ ngậm một chút rượu trong vòm miệng thôi nhé. Đôi khi, trong những tiệc nếm rượu, bạn sẽ bắt gặp hình ảnh một người sành rượu mắt lim dim, ngửa cổ ra phía sau. Đừng ngạc nhiên bởi đó là một cách để cảm nhận hương vị rượu vang tốt nhất, hãy để cho những giọt rượu từ từ lan tỏa khắp lưỡi trước khi trôi vào cuống họng.<br />
<span style="color: #0000CD;">S thứ năm là <span style="font-weight: bold;">SAVOUR </span>(nhấm nháp)</span>: Từ từ mở mắt trong tư thế hơi ngả đầu, bạn có thể cảm nhận, đánh giá được hương vị của rượu vang còn đọng lại sau khi uống. Có thể là vị chát nhẹ, chát nồng hơn hay cũng có thể là vị ngọt khó tả, thoảng nhẹ không thể nắm bắt. Và cũng chỉ trong bước này, bạn mới thấy hương vị mật ong hoặc vani trong một số loại rượu.<br />
<span style="font-style: italic;"><span style="color: #800080;">Còn ngần ngại gì mà bạn không thử tuân thủ 5 S để tận hưởng trọn vẹn thứ rượu tinh tế, thanh khiết và tự nhiên nhất này!</span></span><hr />
<span style="font-size: x-large;"><span style="color: #FF0000;"><span style="font-weight: bold;">Cách phân biệt vang thật/giả</span></span></span><br />
Hiện nay, trên thị trường Viêt Nam có rất nhiều rượu vang mang nhãn hiệu Bordeaux. Để có thể phân biệt được đâu là rượu thật, đâu là rượu giả, ta có thể chú ý tới một số đặc điểm sau:<br />
<br />
<span style="font-weight: bold;">- Nhãn chai</span>: vì người Việt Nam cho rằng đã là Bordeaux thì càng lâu năm càng quý nên các nhà làm rượu giả đã lợi dụng yếu tố này để in các nhãn chai Bordeaux với năm đóng chai từ 1993 tới 1997. Điều cần phải biết, đây là những chai Bordeaux hết sức bình thường. Ở Pháp, thời hạn sử dụng đối với Bordeaux trắng loại này từ 2-3 năm, rượu đỏ từ 4-5 năm là tối đa trong những điều kiện bảo quản tối ưu (hầm rượu ít ánh sáng, nhiệt độ ổn định thường xuyên từ 13-15 độ C, độ ẩm không khí từ 65-75 độ). Do đó, rượu vang Bordeaux không tên tuổi thuộc những năm sản xuất này, nếu không phải là giả thì cũng đã hỏng, trở thành “dấm chua”.<br />
<br />
<span style="font-weight: bold;">- Các nhà làm rượu giả do kiến thức có hạn nên nhiều khi nhầm lẫn giữa các giống nho làm rượu</span>. Lỗi thường gặp là trên cả rượu vang đỏ và vang trắng đều ghi các giống nho làm rượu giống nhau: Cabernet Sauvignon, Cabernet Franc và Merlot. Trong thực tế, đây là các giống nho dùng làm rượu vang Bordeaux đỏ, còn rượu Bordeaux trắng làm từ các dòng nho Sauvignon Blanc và Sémillon. <br />
<br />
<span style="font-weight: bold;">- Một lỗi thường gặp khác là trên một số nhãn chai Bordeaux</span> giả có đề chữ “mise en bouteille par AOC 1993”, có nghĩa là đóng chai bởi AOC năm 1993. Thực ra AOC là chữ viết tắt tiếng Pháp “Appellation d’Origine Controlée” có nghĩa là sản phẩm có nguồn gốc xuất xứ được xác định, thay vì phải viết “mise en bouteille au Chateau ou en Domaine” (có nghĩa là đóng chai tại lâu đài hay lãnh địa – nơi sản xuất rượu vang). Bản thân chữ Bordeaux đã có nghĩa là AOC rồi. <br />
<br />
- Kiểu dáng chai: tất cả các chai Bordeaux đỏ và trắng khô đều có màu xanh lá cây phơn phớt ( để hạn chế ánh sáng ) và đáy chai lõm. Các chai rượu ngọt (Sauternes, Loupiac, Sainte-Croix-du-Mont...) có màu trắng và đáy chai lõm.<br />
<br />
<span style="font-weight: bold;">- Mầu sắc rượu:</span> khi đưa chai ra ánh sáng, đối với rượu vang trắng, nếu là những năm 1993, ít nhất rượu phải có màu vàng sẫm hoặc màu hổ phách. Đối với rượu vang đỏ, rượu sẽ có màu hồng ngọc hoặc màu ngói tươi. Cũng có thể thấy trong một số chai rượu vang đỏ một chút cặn ở đáy chai (nếu rượu thực sự được giữ lâu năm). <br />
<br />
<span style="font-weight: bold;">- Nút thiếc bảo vệ:</span> nếu là vang Bordeaux thật, bạn có thể xoay nút thiếc dễ dàng vì nút thiếc được đóng bằng máy, trong khi ở các chai vang giả nút thiếc được đóng bằng tay, nhiều khi lại dán thêm cồn nên khó xoay chuyển xung quanh cổ chai.<br />
<br />
- Cũng như nút thiếc bảo vệ,<span style="font-weight: bold;"> nhãn chai vang thật được dán bằng máy và bằng keo dán công nghiệp nên nhãn mịn màng, tương đối dễ bóc nếu ngâm vỏ chai vào nước nóng</span>, trong khi nhãn các chai vang giả được dán bằng keo dán chất lượng tồi nên nhãn chai không được mịn, lại được dán rất chắc, khi bạn lấy nhãn chai khỏi vỏ chai rất hay bị rách.<hr />
<span style="font-size: x-large;"><span style="font-weight: bold;">Bí quyết giữ Rượu Nho Rượu Vang sau khi mở nắp</span></span><br />
<br />
<span style="color: #FF0000;">Một khi nút bần bị kéo ra khỏi chai có nghĩa là rượu đã tiếp xúc với không khí, nếu không biết cách bảo quản thì rượu rất dễ bị hỏng. Thế nhưng bảo quản như thế nào và bảo quản trong bao lâu để rượu đã khui vẫn giữ được mùi vị thì không phải ai cũng biết.</span><br />
<br />
<span style="font-weight: bold;">Dưới đây là những cách giúp bảo quản rượu đã khui được tươi ngon.<br />
Một khi nút bần bị kéo ra khỏi chai có nghĩa là rượu đã tiếp xúc với không khí, nếu không biết cách bảo quản thì rượu rất dễ bị hỏng. Thế nhưng bảo quản như thế nào và bảo quản trong bao lâu để rượu đã khui vẫn giữ được mùi vị thì không phải ai cũng biết. Dưới đây là những cách giúp bảo quản rượu đã khui được tươi ngon.</span><br />
<span style="color: #9400D3;"><span style="font-weight: bold;">Bảo quản bằng tủ lạnh</span></span><br />
Cũng như các thực phẩm khác, rượu có thể bảo quản bằng cách để trong tủ lạnh, trong điều kiện nhiệt độ thấp những phản ứng hoá học diễn ra chậm hơn làm cho quá trình ôxy hoá cũng chậm theo. <br />
-Giảm nhiệt độ rượu cũng là cách ngăn chặn tác động của những vi khuẩn lên men làm chua rượu. Chính vì thế nên để rượu đã khui vào trong tủ lạnh là một trong những bước quan trọng để giữ rượu được ngon cho những lần uống tiếp theo.<br />
Ngoài ra còn có nhiều cách khác bảo quản rượu bằng cách làm giảm tác động của oxy một cách trực tiếp.<br />
<br />
Rót bớt rượu sang chai khác nhỏ hơn rồi đem bảo quản trong tủ lạnh<br />
Theo kinh nghiệm của những người uống rượu vang thường xuyên thì một lần uống vừa miệng và không hại cho gan chỉ hết ½ chai 750ml là nhiều nhất. Cho nên trước khi uống nên chắt một nửa chai rượu 750ml sang chai 375ml đóng nút bần lại rồi cho chai nhỏ vào tủ lạnh trước khi uống. Bởi vì thực tế cho thấy làm như vậy lượng không khí giữa bề mặt rượu và nút bần rất nhỏ.<br />
<br />
<span style="color: #C71585;"><span style="font-weight: bold;">Hút chân không</span></span><br />
-Hút chân không cũng là một cách để ngăn không cho rượu tiếp xúc với oxy. Đặt nút bằng cao su được thiết kế đặc biệt vào cổ chai rồi dùng bơm để hút không khí ra.<br />
-Nếu so sánh giữa rượu được rót ra chai nhỏ bảo quản và rượu được bảo quản bằng cách hút chân không thì rượu bảo quản bằng cách hút chân không hương vị ít hơn, nhạt nhẽo và hả hơi. Có 2 lý do chính:<br />
T1: khi bơm khí ra sẽ tạo ra những bọt bong bóng nổi trên mặt rượu làm khí cacbonic phân huỷ do áp suất giảm. Sự thay đổi thành phần của rượu làm cho rượu nhạt nhẽo hơn và kém thú vị hơn.<br />
T2: Mùi vị của rượu bị bay hơi và làm mất đi hương vị của rượu.<br />
Bơm khí Nitơ<br />
-Bơm nhanh khí nitơ nén vào rượu để làm giảm quá trình oxy hoá. Nghe có vẻ như đây là giải pháp lý tưởng, vừa không làm bay hơi hương vị vừa giảm tối thiểu được sự tiếp xúc của rượu với oxy khi khí nitơ được bơm vào. Nhưng thật không may, khí nitơ có thể tác động làm hỏng rượu, đặc biệt là đối với rượu trưởng thành và mạnh.<br />
<span style="font-weight: bold;">-Đối với rượu vang - Champagne </span><br />
Những cách bảo quản rượu nói trên không phù hợp với rượu vang nổ. Bởi vì nếu rót bớt rượu sang chai nhỏ hơn để bảo quản sẽ làm mất hết ga. Lớp khí cacbonic của bong bóng đã bảo vệ rượu khỏi bị oxy hoá nên bảo quản rượu bằng cách bơm khí nitơ vào là không cần thiết.<br />
<br />
Cho nên đối với rượu vang nổ chỉ cần đóng nút bần và bảo quản trong tủ lạnh mà không sợ bị mất đi đặc tính riêng của rượu. Nên dùng nút hít để điều chỉnh áp suất bên trong chai khi mở ra.<br />
<br />
Làm như vậy giúp bảo quản ga rượu.<br />
-Nói chung, phần lớn các loại rượu chỉ nên để đến ngày hôm sau. Bởi vì, các phương pháp bảo quản rượu nêu trên chỉ là những cách trì hoãn thời gian rượu hỏng chứ không phải là cách ngăn ngừa rượu không bị hư hỏng.<br />
<br />
Mặc dù có nhiều cách bảo quản nhưng kinh nghiệm cho thấy trước khi dùng nên ước lượng lượng rượu uống bữa đó rồi rót số còn lại sang chai nhỏ hơn, đóng nút bần lại đưa vào tủ lạnh là cách bảo quản rượu tốt nhất.<br />
<br />
<span style="font-style: italic;"><span style="font-weight: bold;">Lưu ý</span>: trước khi dùng nên lấy rượu ra khỏi tủ lạnh trước vài tiếng..</span>]]></content:encoded>
		</item>
	</channel>
</rss>